Cây ngà voi (thuộc chi Sansevieria, họ Dracaenaceae/Agavaceae) là loại cây cảnh quen thuộc trong nhiều gia đình Việt Nam. Gần đây, nhiều thông tin truyền miệng lan truyền rằng lá hoặc rễ cây ngà voi có thể giã nát lấy nước uống, nhai sống hoặc sắc nước trị viêm họng, đau khớp, giải độc. Thói quen tự ý thử nghiệm các bài thuốc dân gian từ cây cỏ quanh nhà này tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường.

Câu trả lời trực tiếp từ các bằng chứng độc chất học hiện có: người dân tuyệt đối không nên tự ý ăn, nhai sống hoặc sắc uống cây ngà voi tại nhà. Cây chứa nhóm hợp chất tự nhiên saponin cùng nhiều hoạt chất sinh học khác có khả năng gây kích ứng niêm mạc ống tiêu hóa, rối loạn nhu động ruột, tiềm ẩn nguy cơ tổn thương gan mật hoặc thận nếu dùng liều cao kéo dài.

Saponin trong cây ngà voi và nguy cơ gây kích ứng tiêu hóa

Các phân tích hóa thực vật từ chiết xuất lá của cây Sansevieria liberica (cây cùng chi ngà voi) ghi nhận sự hiện diện của hàng loạt hợp chất có hoạt tính sinh học, bao gồm saponin, alkaloid, flavonoid, tannin, terpenoid, steroid và glycoside [1]. Trong tự nhiên, saponin đóng vai trò như một cơ chế phòng vệ hóa học giúp thực vật chống lại nấm, vi khuẩn và các loài động vật ăn cỏ.

Khi đi vào đường tiêu hóa của động vật và người, saponin hoạt động như chất hoạt động bề mặt tự nhiên. Các bằng chứng đánh giá an toàn cho thấy các loại saponin triterpene nhìn chung hấp thu kém qua đường tiêu hóa, phần lớn bị thải trừ nguyên vẹn hoặc bị chuyển hóa bởi hệ vi sinh vật đường ruột, enzym ruột và dịch vị dạ dày [2]. Khi hấp thu qua đường tiêu hóa, saponin nguyên vẹn chỉ được hấp thu ở mức độ rất thấp và phần aglycon (sapogenin) sau thủy phân cũng chỉ hấp thu hạn chế [2]. Mặc dù vậy, sự tích tụ lượng lớn saponin chưa hấp thu trong lòng ruột có thể gây tổn thương cơ học và kích ứng cục bộ lên lớp biểu mô niêm mạc ruột. Sự quá tải saponin trong cơ thể người hoàn toàn có thể dẫn tới các phản ứng độc tính [3].

Nghiên cứu về cơ chế gây độc của saponin trên hệ tiêu hóa đã chỉ ra rằng đường tiêu hóa chính là cơ quan đích nhạy cảm và chịu tổn hại trực tiếp [4]. Khi tiếp xúc với saponin ở nồng độ cao, niêm mạc đường ruột bị kích ứng mạnh, dẫn đến các phản ứng viêm cục bộ, tăng tiết dịch bất thường, buồn nôn, tiêu chảy dữ dội hoặc chướng bụng.

Dữ liệu từ các nghiên cứu độc tính: Những con số biết nói

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên động vật đã được thực hiện nhằm xác định ngưỡng độc tính của các chiết xuất từ chi Sansevieria cũng như các dạng saponin tự nhiên:

Nghiên cứu công bố năm 2011 tiến hành đánh giá chiết xuất lá Sansevieria liberica thu hoạch tươi, ép lấy dịch và đông khô [1]. Nhóm nghiên cứu tiến hành phân đoạn chiết xuất với n-hexane, chloroform, ethylacetate và methanol, thử nghiệm hoạt tính kháng viêm trên mô hình gây phù bàn chân chuột cống trắng bằng lòng trắng trứng [1]. Kết quả cho thấy chiết xuất thô (CE) và phân đoạn n-hexane (HF) ở liều 400 mg/kg ức chế phù nề tương đương với thuốc đối chứng diclofenac sodium liều 5 mg/kg [1]. Thử nghiệm độc tính cấp tính của chiết xuất thô trên chuột nhắt trắng xác định liều gây chết 50% cá thể (LD50) qua cả đường uống và đường tiêm phúc mạc đều vượt mức 5.000 mg/kg [1]. Dù vậy, nghiên cứu này chỉ tiến hành trên mô hình động vật ngắn hạn, sử dụng chiết xuất đã qua xử lý đông khô trong phòng thí nghiệm, hoàn toàn không tương đương với việc người tự ý nhai lá tươi.

Một nghiên cứu độc chất học chi tiết khác vào năm 2007 đánh giá chiết xuất nước từ rễ cây Sanseviera liberica trên động vật gặm nhấm [5]. Trong thử nghiệm độc tính cấp trên chuột nhắt trắng, chiết xuất đường uống liều đơn lên đến 20 g/kg (20.000 mg/kg) không gây tử vong hoặc biểu hiện độc rõ rệt trong 14 ngày, nhưng khi tiêm phúc mạc, chiết xuất gây tử vong với LD50 là 668,3 ± 47,6 mg/kg [5]. Tiếp tục đánh giá độc tính bán trường diễn kéo dài 52 ngày trên chuột cống trắng với các liều uống hàng ngày 80, 400 và 2.000 mg/kg [5]:

  • Không ghi nhận chuột chết hay dấu hiệu gây chết bên ngoài, không có thay đổi đáng kể về trọng lượng thận, gan, tim và lách [5].
  • Tuy nhiên, ở mức liều 400 mg/kg, các nhà khoa học ghi nhận trọng lượng phổi giảm có ý nghĩa thống kê [5].
  • Ở liều 2.000 mg/kg (2 g/kg), các chỉ số men gan AST và ALT không đổi, nhưng nồng độ phosphatase kiềm (ALP) và acid uric trong máu tăng cao rõ rệt [5]. Số lượng hồng cầu tăng và bạch cầu giảm có ý nghĩa thống kê [5]. Các tác giả nhấn mạnh rằng dù chiết xuất tương đối an toàn ở chuột cống trong phạm vi liều kiểm soát, việc theo dõi chức năng gan mật là điều bắt buộc phải thực hiện nếu sử dụng kéo dài trên người [5].

Bên cạnh đó, các nghiên cứu sâu về độc tính đường tiêu hóa của saponin từ hạt tràm trà lau (Camellia sasanqua) trên chuột nhắt trắng năm 2008 cho thấy một bức tranh đáng lo ngại [4]. Dùng đường uống liều đơn (125-2.000 mg/kg) làm tăng tỷ lệ tử vong phụ thuộc vào liều, với LD50 là 1.143,7 mg/kg [4]. Trong nghiên cứu bán trường diễn kéo dài 6 tuần ở các mức liều 100, 200 và 400 mg/kg/ngày, chuột ở nhóm 100 và 200 mg/kg có chỉ số GOT (men gan) tăng nhẹ và triglyceride giảm [4]. Đáng chú ý, toàn bộ chuột ở nhóm uống 400 mg/kg/ngày đều tử vong trong thời gian điều trị, khi giải phẫu phát hiện ruột non bị chướng căng nghiêm trọng và tổn thương biến đổi lớp dưới niêm mạc [4]. Thử nghiệm chức năng vận động tiêu hóa ở liều 100 và 200 mg/kg còn ghi nhận tốc độ làm rỗng dạ dày và nhu động ruột non sụt giảm đáng kể, thời gian bài tiết phân bị kéo dài [4]. Các nhà nghiên cứu kết luận saponin có khoảng điều trị rất hẹp và cơ quan đích nhiễm độc chính là hệ tiêu hóa [4].

Độc tính mạn tính của saponin chiết xuất từ Argania spinosa năm 1998 cũng ghi nhận: đường uống ở chuột cống và chuột nhắt có LD50 là 1.300 mg/kg [6]. Khi cho chuột uống liều 100 và 200 mg/kg mỗi ngày liên tục trong 3 tháng, nồng độ creatinine trong máu tăng cao (gợi ý bệnh lý tổn thương thận), men transaminase gan tăng nhẹ, đồng thời giải phẫu bệnh ghi nhận cạn kiệt lượng glycogen dự trữ tại gan và xuất hiện tình trạng thoái hóa ống thận khu trú [6].

Tương tự, nghiên cứu năm 2009 về saponin steroid từ Dioscorea zingiberensis trên chuột cống SD ở liều 510 mg/kg/ngày trong 30 ngày cho thấy nồng độ bilirubin toàn phần (TBIL) trong huyết thanh tăng đáng kể, giảm hàm lượng protein tại gan, đồng thời gây hiện tượng không bào hóa tế bào chất của tế bào gan và tắc mật vi quản [7].

Lợi ích tiềm năng và khoảng cách bằng chứng khoa học

Các nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ các loài thuộc chi Sansevieria có thể sở hữu tiềm năng sinh học nhất định. Chiết xuất lá Sansevieria liberica có tác dụng giảm phù nề thực nghiệm tương đương một số thuốc chống viêm không steroid [1]. Rễ của loài này trong thử nghiệm bán trường diễn trên chuột đực còn làm tăng trọng lượng tinh hoàn, tăng mật độ tinh trùng và tăng tỷ lệ tinh trùng bình thường [5]. Ngoài ra, saponin còn được nghiên cứu ứng dụng làm tá chất vaccine đường uống kích thích miễn dịch trên cá bơn [8].

Tuy nhiên, có một khoảng cách rất lớn giữa các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và việc sử dụng tự do ngoài đời thực:

  • Toàn bộ dữ liệu an toàn và độc tính nói trên đều được thực hiện trên động vật thí nghiệm (chuột nhắt, chuột cống, cá bơn) [6], [4], [1], [5], [8], [7]. Đến nay, hoàn toàn chưa có các thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trên người để xác minh liều lượng an toàn, hiệu quả trị liệu hay độc tính lâu dài của cây ngà voi.
  • Dịch chiết lá hoặc rễ cây ngà voi thu hái tự nhiên chứa nồng độ saponin và các hoạt chất phụ thuộc vào thổ nhưỡng, độ già của lá và thời điểm thu hái. Người sử dụng không thể kiểm soát được hàm lượng hóa chất đưa vào cơ thể, rất dễ vượt qua ngưỡng dung nạp và chạm tới ngưỡng ngộ độc [4], [3].

Những hiểu lầm phổ biến khi dùng thảo dược tại gia

Nhiều người quan niệm "cây cỏ tự nhiên lành tính, không bổ ngang cũng bổ dọc". Đây là một hiểu lầm tai hại. Độc chất học chứng minh rằng rất nhiều loài thực vật chứa độc tố tự nhiên mạnh để tự vệ, và saponin là một ví dụ điển hình [4], [1].

Một hiểu lầm khác là cho rằng việc đun sôi, sắc nước trong nhiều giờ sẽ phân hủy hoàn toàn độc tính. Thực tế, nhiều loại saponin triterpene và steroid có cấu trúc khung rất bền vững với nhiệt độ thường. Khi đun sôi sắc đặc, lượng nước bay hơi có thể làm tăng nồng độ hoạt chất chiết ra, khiến nguy cơ gây loét và bào mòn niêm mạc ống tiêu hóa càng trở nên trầm trọng hơn [4].

Những ai cần đặc biệt cẩn trọng?

Dựa trên các dữ liệu về biến đổi sinh hóa và giải phẫu bệnh từ các nghiên cứu độc tính, các nhóm đối tượng sau tuyệt đối không tiếp xúc hoặc tiêu thụ các chế phẩm từ cây ngà voi:

  • Người có tiền sử bệnh lý tiêu hóa: Người bị viêm loét dạ dày - tá tràng, hội chứng ruột kích thích, viêm đại tràng. Độc tính của saponin làm giảm nhu động ruột, chậm rỗng dạ dày và gây tổn hại lớp niêm mạc ruột [4].
  • Người có bệnh nền gan, mật, thận: Các nghiên cứu bán trường diễn đã ghi nhận saponin gây tăng bilirubin, ứ mật vi quản, tăng men phosphatase kiềm (ALP), tăng creatinine máu và thoái hóa ống thận khu trú [6], [5], [7]. Người suy gan hoặc suy thận dùng thảo mộc tự phát có nguy cơ suy giảm chức năng nội tạng nhanh chóng.
  • Phụ nữ có thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ: Chưa có bất kỳ nghiên cứu khoa học nào chứng minh độ an toàn trên các đối tượng này. Độc tính kích ứng đường ruột và biến đổi huyết học [5] có thể ảnh hưởng tiêu cực tới thai nhi và trẻ nhỏ.

Lời khuyên áp dụng an toàn trong đời sống

Cây ngà voi là một loại cây cảnh tuyệt đẹp, dễ trồng, giúp tạo mảng xanh và thanh lọc không khí trong không gian sống. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe bản thân và gia đình:

  • Chỉ trồng cây ngà voi với mục đích làm cảnh trang trí, làm sạch môi trường sống. Đặt chậu cây ở vị trí ngoài tầm với của trẻ nhỏ và vật nuôi trong nhà để tránh nguy cơ cắn, nuốt lá cây tươi.
  • Tuyệt đối không tự ý ngắt lá, giã nát lấy nước cốt uống, nhai sống hoặc sắc lấy nước đặc để điều trị bất kỳ chứng bệnh nào theo các bài thuốc truyền miệng trên mạng xã hội.
  • Khi xuất hiện các triệu chứng viêm đường hô hấp, đau nhức xương khớp hoặc rối loạn tiêu hóa, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị bằng các phác đồ y khoa đã được chứng minh hiệu quả.
  • Trong trường hợp vô tình nuốt phải dịch cây ngà voi và xuất hiện các dấu hiệu kích ứng như bỏng rát khoang miệng, buồn nôn, đau quặn bụng hoặc tiêu chảy liên tục, cần ngưng ngay việc sử dụng, uống nhiều nước ấm để pha loãng và đến cơ sở y tế gần nhất để được nhân viên y tế hỗ trợ xử trí kịp thời.

Tóm lại, dù các hợp chất trong chi thực vật ngà voi có những hoạt tính kháng viêm nhất định trong ống nghiệm và trên động vật thí nghiệm [1], việc tự ý ăn hoặc sắc uống loại cây này tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc tiêu hóa, tổn thương gan thận rất lớn [6], [4], [5], [7]. Người dân nên nhìn nhận đúng giá trị làm cảnh của cây, không biến cây cảnh thành mối nguy hiểm cho đường ruột của chính mình.