Nhân trung bạch và lời đồn cầm máu trong dân gian
Trong đời sống hằng ngày, các tai nạn sinh hoạt gây trầy xước, rách da hay chảy máu mô mềm là điều khó tránh khỏi. Khi gặp tình huống này, nhiều người thường lúng túng và tìm đến các mẹo dân gian truyền miệng để cầm máu cấp tốc. Một trong những kinh nghiệm kỳ lạ được lưu truyền là sử dụng nhân trung bạch rắc trực tiếp vào vết thương hở.
Nhân trung bạch thực chất là lớp cặn màu trắng xám lắng đọng lâu ngày ở đáy các dụng cụ chứa nước tiểu của con người. Theo quan niệm truyền miệng chưa qua kiểm chứng, thứ bột lắng này được cho là có tính chất làm mát máu, tiêu viêm và nhanh chóng bịt kín miệng vết thương. Tuy nhiên, việc đưa một sản phẩm bài tiết trực tiếp lên vùng da rách toác và mạch máu hở là thói quen vô cùng nguy hiểm.
Y học hiện đại khẳng định người dân tuyệt đối không nên dùng nhân trung bạch để bôi hay đắp lên vết thương chảy máu. Hành động này không những không hỗ trợ quá trình đông máu tự nhiên mà còn đưa thẳng các mầm bệnh nguy hiểm vào sâu trong tuần hoàn máu. Vết thương có nguy cơ cao bị nhiễm trùng nặng, hoại tử mô và kéo theo nhiều biến chứng khó lường.
Cơ chế đông máu tự nhiên diễn ra như thế nào?
Để hiểu vì sao nhân trung bạch không có giá trị cầm máu, cần nhìn nhận bản chất của quá trình cầm máu sinh lý trong cơ thể người. Chảy máu là hậu quả trực tiếp khi cấu trúc da và mạch máu bị tổn thương cơ học [1]. Ngay khi mạch máu bị đứt rách, cơ thể người bình thường lập tức kích hoạt chuỗi phản xạ phức tạp nhằm hạn chế mất máu và bảo vệ mô mềm [1].
Quá trình đông máu sinh lý diễn ra tuần tự qua ba giai đoạn chính gồm khởi đầu, khuếch đại và lan truyền [1]. Giai đoạn khởi đầu xuất hiện ngay khi nội mô mạch máu bị rách, giải phóng yếu tố mô và cuối cùng dẫn đến việc tạo thành một lượng nhỏ thrombin [1]. Bước sang giai đoạn khuếch đại, các tiểu cầu được thu hút về vị trí tổn thương, tiến hành hoạt hóa và kết tụ lại với nhau để tạo thành nút chặn tiểu cầu ban đầu [1].
Ở giai đoạn lan truyền cuối cùng, chuỗi phản ứng enzym thúc đẩy sự hình thành mạng lưới fibrin bền vững nhằm bao bọc và cố định nút tiểu cầu, tạo thành cục máu đông hoàn chỉnh [1]. Nếu lượng máu chảy quá nhiều mà không được kiểm soát, biến chứng tụ máu sẽ xuất hiện [1]. Tình trạng chảy máu quá mức và ứ máu dưới da có thể cản trở lành thương, gây nhiễm trùng, toác miệng vết thương và hoại tử mô [1].
Nhân trung bạch hoàn toàn không chứa các thành phần có hoạt tính sinh học tham gia vào chuỗi phản ứng khởi đầu, khuếch đại hay lan truyền này [1]. Lớp bột cặn này chỉ đơn thuần đóng vai trò như một dị vật cơ học thô ráp che phủ bề mặt. Dị vật này ngăn cản sự hình thành sợi fibrin tự nhiên và tạo điều kiện hình thành các ổ máu tụ lầy lội dưới da [1].
Nhân trung bạch: Ổ chứa vi sinh vật đe dọa vết thương hở
Nhiều người lầm tưởng nước tiểu và các chất cặn lắng từ nước tiểu là vô trùng, có thể dùng sát khuẩn vết rách da. Đây là một quan niệm sai lầm nghiêm trọng đã bị khoa học hiện đại bác bỏ hoàn toàn. Bằng chứng khoa học ngày nay chỉ ra rằng nước tiểu của con người chứa cả một hệ vi sinh vật phức tạp ngay cả ở những cá nhân khỏe mạnh không hề có triệu chứng bệnh lý [2].
Một nghiên cứu sơ bộ công bố năm 2019 tiến hành trên các cư dân tại viện dưỡng lão đã làm sáng tỏ mối liên hệ vi khuẩn giữa nước tiểu và các tổn thương hở [2]. Các nhà nghiên cứu đã phân tích sự trùng khớp về vi khuẩn giữa nước tiểu và các vết thương hở nằm ở vùng giữa rốn và giữa đùi trên cùng một bệnh nhân [2]. Kết quả phân tích bằng cả phương pháp nuôi cấy lẫn phương pháp phân tử độc lập cho thấy cùng một loài vi khuẩn có thể cư trú đồng thời ở cả nước tiểu lẫn vết thương hở [2].
Nghiên cứu sơ bộ này chứng minh rõ ràng các loài vi khuẩn từ hệ tiết niệu hoàn toàn có khả năng xâm nhập và định cư trên các vết thương da hở [2]. Nhân trung bạch là chất lắng cặn tích tụ qua nhiều ngày, nhiều tháng từ nước tiểu, nên mật độ vi khuẩn, nấm mốc và tạp chất lắng đọng là cực kỳ đậm đặc. Khi rắc chất cặn này lên vết thương hở, người bệnh đang trực tiếp cấy hàng triệu vi khuẩn vào mô mềm đang tổn thương [2].
Mặt khác, các nghiên cứu cũng lưu ý rằng quần thể vi khuẩn cư trú tại vết thương hở có ảnh hưởng mang tính quyết định đến tiến trình sửa chữa và lành vết thương [2]. Sự xuất hiện của vi khuẩn gây ô nhiễm sẽ phá vỡ hàng rào bảo vệ non nớt, kích thích phản ứng viêm quá mức và chuyển một tổn thương cấp tính thành một ổ loét mạn tính khó lành [2].
Nguy cơ nhiễm trùng mô mềm và áp xe sâu
Việc để các vi khuẩn bắt nguồn từ đường tiết niệu tiếp xúc với các tổn thương có tụ máu hay mô giập nát có thể dẫn tới những hậu quả lâm sàng nghiêm trọng. Một báo cáo ca bệnh năm 2011 đã ghi nhận biến chứng nhiễm khuẩn nặng do tổn thương bàng quang làm rò rỉ nước tiểu vào vết mổ [3]. Nữ bệnh nhân 21 tuổi trải qua phẫu thuật lấy thai khẩn cấp và xuất hiện một khối máu tụ tại vị trí vết rạch tử cung [3].
Sau khi phẫu thuật mở bụng kiểm tra để cầm máu, các bác sĩ phát hiện một lỗ thủng bàng quang dài 3 cm và đã tiến hành khâu phục hồi bằng chỉ tự tiêu hai lớp [3]. Ba ngày sau đó, bệnh nhân sốt cao liên tục trên 38 độ C dù đã được điều trị bằng nhiều loại kháng sinh khác nhau, buộc bác sĩ phải mở lại vết thương [3]. Kết quả chụp cắt lớp vi tính cho thấy một ổ áp xe lớn hình thành ngay tại vị trí khối máu tụ trước đó [3].
Xét nghiệm vi sinh xác định thủ phạm gây ra tình trạng nhiễm trùng vết mổ nghiêm trọng và tạo ổ áp xe dai dẳng này chính là vi khuẩn Mycoplasma hominis có nguồn gốc từ đường niệu sinh dục [3]. Tác nhân này có khả năng kháng lại nhiều phác đồ kháng sinh thông thường, khiến vết thương bị mưng mủ kéo dài và đe dọa sức khỏe bệnh nhân [3].
Trường hợp lâm sàng trên là lời cảnh tỉnh rõ ràng: khi dịch và cặn bã tiết niệu xâm nhập vào một vết thương có ứ đọng máu, nguy cơ nhiễm trùng sinh mủ là cực kỳ cao [3]. Huyết khối và máu tụ tại vết thương chính là môi trường dinh dưỡng lý tưởng để vi khuẩn kỵ khí và vi khuẩn tiết niệu bùng phát [3], [1]. Bột nhân trung bạch khi rắc vào mạch máu rách sẽ bị vùi lấp bên dưới cục máu đông, tạo thành ổ áp xe ngầm dưới da vô cùng nguy hiểm.
So sánh với các giải pháp cầm máu y khoa chuẩn mực
Để bảo vệ bệnh nhân, y học hiện đại phát triển các phương pháp cầm máu tại chỗ dựa trên cơ chế sinh học rõ ràng và tính vô trùng tuyệt đối [4], [1]. Khác xa với việc dùng chất cặn bài tiết bẩn thô sơ, các chế phẩm y tế chuyên dụng được tinh chế để hỗ trợ trực tiếp các pha đông máu mà không gây nhiễm độc mô [4].
Một nghiên cứu năm 2021 trên 284 bệnh nhân bỏng sâu điều trị bằng miếng xốp collagen kết hợp ghép da tự thân đã chứng minh hiệu quả cầm máu và phục hồi vượt trội [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ đạt loại xuất sắc và tốt lên tới 90,85% (tương đương 258 trên tổng số 284 bệnh nhân) [4]. Miếng xốp collagen phát huy tác dụng nhờ khả năng dính chặt vào vết thương và bít tắc cơ học các lỗ mở mao mạch [4].
Đồng thời, các phân tử collagen giúp hấp phụ và ngưng tập tiểu cầu, hoạt hóa các yếu tố đông máu, kích hoạt con đường cầm máu nội sinh để dập tắt chảy máu tại chỗ [4]. Vật liệu này chỉ tạo phản ứng đông máu cục bộ, không kích hoạt hệ thống đông máu toàn thân nên không làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu [4]. Sau đó, collagen tự thoái hóa và phân giải thành các axit amin thiết yếu cung cấp dinh dưỡng nuôi mô hạt phát triển [4].
Cũng trong nghiên cứu này, các phân tích thống kê chỉ ra rằng nhiễm trùng vết thương là một yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hồi phục của bệnh nhân [4]. Ngược lại, một nghiên cứu thực nghiệm năm 1990 trên thỏ bị làm nhiễm bẩn vết thương bằng vi khuẩn Staphylococcus aureus với nồng độ 10 mũ 6 vi khuẩn đã so sánh 4 kỹ thuật cầm máu: đốt điện điểm mạch đặc hiệu, thắt mạch đặc hiệu bằng chỉ vicryl 4-0, đốt điện không đặc hiệu kèm mô xung quanh và thắt mạch không đặc hiệu kèm mô xung quanh [5].
Nghiên cứu trên thỏ này cho thấy việc cầm máu chuẩn xác bằng cách đốt điện điểm mạch hạn chế tối đa mô hoại tử không làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng máu vết thương so với thắt mạch bằng chỉ [5]. Cầm máu đúng phương pháp giúp hạn chế mô chết, từ đó ngăn ngừa nguy cơ nhiễm trùng tại các vết thương bị nhiễm khuẩn [5]. Trái ngược hoàn toàn với các kỹ thuật y khoa vô trùng giúp giảm hoại tử và nhiễm khuẩn, việc rắc nhân trung bạch vừa làm tổn thương thêm mô mềm, vừa bơm thêm lượng lớn mầm bệnh vào vết thương [2], [5].
Những hiểu lầm thường gặp khi xử trí vết thương chảy máu
Rất nhiều người vẫn giữ định kiến sai lầm rằng hễ có máu chảy là phải lập tức tìm bất kỳ thứ bột nào để rắc lên bịt miệng vết rách lại. Bột nhân trung bạch, bột lá cây, tro bếp hay thuốc lào thường được chọn vì người dân tưởng rằng lớp bột khô sẽ hút máu và khóa miệng vết thương. Thực tế, các hạt bột dị vật này cản trở các yếu tố đông máu tiếp xúc với nhau, phá vỡ cấu trúc mạng lưới fibrin tự nhiên [1].
Một hiểu lầm phổ biến khác là chỉ cần dùng thuốc bôi ngoài da thì vết thương nhiễm bẩn sâu cũng sẽ tự khỏi. Khi rắc chất bẩn vào mạch máu đang mở, vi khuẩn đi thẳng vào trong lòng mạch và các khoang mô sâu bên dưới [3]. Các thuốc sát trùng bôi ngoài sau đó chỉ có thể tác động trên bề mặt da mà không thể tiêu diệt được ổ vi khuẩn đã bị vùi sâu dưới khối máu tụ [3], [6].
Nhiều người cũng chủ quan cho rằng một vết máu tụ sưng tím nhỏ sau chấn thương là vô hại. Các nghiên cứu chuyên sâu chỉ ra rằng biến chứng tụ máu thường phát triển mạnh nhất trong vòng 24 đến 72 giờ đầu sau tổn thương mô [6]. Tụ máu biểu hiện bằng cảm giác tăng áp lực, đau nhức nhối theo nhịp đập, bầm tím và sự phập phều của mô mềm [6]. Nếu có thêm sự hiện diện của vi khuẩn từ nhân trung bạch, ổ tụ máu này sẽ biến thành bọc áp xe mủ nguy hiểm trong thời gian ngắn [3], [6].
Ai nên đặc biệt thận trọng khi bị tổn thương ngoài da?
Nguyên tắc bất di bất dịch trong sơ cứu là không dùng nhân trung bạch cho bất kỳ ai trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Tuy nhiên, có những nhóm đối tượng khi bị vết thương ngoài da cần được chăm sóc vô trùng đặc biệt nghiêm ngặt do nguy cơ nhiễm trùng và hoại tử cao gấp nhiều lần người bình thường.
Nhóm bệnh nhân lớn tuổi, người tàn tật hoặc người nằm bất động kéo dài là những đối tượng rất dễ tổn thương [2]. Bằng chứng cho thấy người cao tuổi tại các cơ sở điều dưỡng có nguy cơ cao phát triển các vết thương hở mạn tính khó lành, dễ bị vi khuẩn xâm lấn và lây nhiễm chéo từ vi khuẩn đường tiết niệu [2]. Khi nhóm này bị rách da, bất kỳ tác nhân bẩn nào từ nước tiểu xâm nhập cũng có thể kích hoạt nhiễm trùng lan tỏa [2].
Người mắc các bệnh lý suy giảm miễn dịch hoặc đang sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc điều trị khối u cũng cần tuyệt đối thận trọng khi da bị trầy xước. Khi hàng rào da bị tổn thương rộng, các mầm bệnh có thể lan rộng khắp cơ thể, gây biến chứng toàn thân nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong đáng kể [7]. Bên cạnh đó, những người có bệnh lý nền về mạch máu hoặc rối loạn đông máu cũng phải đến bệnh viện ngay khi chảy máu chứ không được tự xử lý tại nhà.
Hướng dẫn các bước sơ cứu cầm máu vết thương an toàn
Khi xảy ra tai nạn dẫn đến chảy máu mô da, điều quan trọng nhất là giữ bình tĩnh và thực hiện đúng các bước sơ cấp cứu cơ bản đã được y học công nhận rộng rãi. Mục tiêu cốt lõi là làm sạch vết thương, tạo áp lực cơ học để kích hoạt đông máu tự nhiên và duy trì môi trường vô khuẩn [1], [6].
Đầu tiên, hãy rửa vết thương nhẹ nhàng dưới vòi nước sạch hoặc nước muối sinh lý để loại bỏ bụi bẩn, đất cát. Tuyệt đối không rắc bất kỳ loại bột dân gian, chất cặn bẩn hay hóa chất chưa được chỉ định vào miệng vết rách. Đối với các vết thương rỉ máu, việc ép trực tiếp lên vết thương là biện pháp cơ bản nhưng hiệu quả nhất [6].
Để cầm máu tại chỗ an toàn, bạn nên sử dụng một miếng gạc vô trùng đặt lên vùng tổn thương, sau đó dùng tay ấn đều đặn [6]. Băng ép vết thương nên được duy trì ổn định để đảm bảo lực ép liên tục lên các mô và mạch máu [6]. Trong trường hợp máu tiếp tục rỉ ra, có thể chườm túi đá lạnh bọc ngoài băng gạc trong khoảng thời gian tối đa 20 phút để hỗ trợ co mạch [6]. Nếu lớp băng thấm ướt máu, cần tháo ra nhẹ nhàng và thay bằng lớp băng gạc sạch mới để bảo đảm độ thấm hút và lực nén tốt hơn [6].
Vết thương thông thường có thể được băng ép bảo vệ bằng một lớp gạc sạch cố định bằng băng dính y tế [6]. Người bị thương nên nghỉ ngơi, tránh các hoạt động gắng sức vì trong tháng đầu tiên sau tổn thương, sức bền kéo của mô hạt vết thương chỉ đạt khoảng 40% đến 50% [6]. Đồng thời, người bệnh không nên uống rượu bia trong tuần đầu sau chấn thương do ethanol làm giãn mạch máu, làm tăng nguy cơ chảy máu tái phát [6]. Nếu vết thương chảy máu liên tục không ngừng, vết rách sâu hoặc có dấu hiệu sưng đau, sốt, bệnh nhân cần đến ngay cơ sở y tế để được bác sĩ xử trí chuyên khoa [3], [6].


