Nhiều người mắc bệnh xương khớp mạn tính thường tìm kiếm các bài thuốc dân gian lưu truyền miệng với hy vọng chữa dứt điểm đau nhức mà không cần dùng thuốc tây. Trong số các thảo dược được đồn thổi, cây biến hoá thường được truyền tai nhau như một vị thuốc trị phong thấp, giảm đau nhức xương khớp. Tuy nhiên, việc tự ý dùng loại cây này tiềm ẩn nhiều mối nguy hại cho sức khoẻ.
Trả lời thẳng thắn cho thắc mắc "có nên tự ý dùng biến hoá trị phong thấp hay không": Tuyệt đối không nên. Cho đến nay, hiệu quả giảm đau nhức khớp của cây biến hoá vẫn chưa hề có bất kỳ bằng chứng thử nghiệm lâm sàng khoa học nào chứng minh, trong khi nguy cơ ngộ độc, suy gan và suy thận mạn do dùng thảo dược không rõ độc tính và liều lượng là rất lớn.
Hiểu lầm phổ biến về bệnh phong thấp và cây biến hoá
Trong dân gian, thuật ngữ "phong thấp" thường được dùng để chỉ chung các bệnh lý viêm khớp, thoái hoá khớp hoặc viêm khớp dạng thấp. Bản chất của viêm khớp dạng thấp là một bệnh lý viêm tự miễn mạn tính và toàn thân [1]. Tình trạng bệnh chủ yếu tác động làm biến đổi lớp màng hoạt dịch của khớp, dẫn đến tàn phế tiến triển, mất khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội, lao động, tăng tỷ lệ tử vong và ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [1].
Nhiều người lầm tưởng rằng cây cỏ tự nhiên lành tính, uống không bổ ngang cũng bổ dọc nên vô tư hái cây biến hoá về sắc uống dài ngày. Đây là một quan niệm sai lầm và nguy hiểm. Thảo dược tự nhiên chứa hàng trăm hợp chất hoá học chưa được phân lập; nếu dùng tự do, gan và thận phải hoạt động quá tải để đào thải độc chất, dễ dẫn đến tổn thương tế bào thận cấp tính hoặc tích luỹ gây suy thận mạn tính không thể hồi phục.
Bằng chứng khoa học về các phương pháp giảm đau khớp chuẩn y khoa
Trong khi cây biến hoá hoàn toàn không có tên trong các nghiên cứu lâm sàng về cơ xương khớp, y học hiện đại đã đánh giá rất chi tiết hiệu quả và độ an toàn của các loại thuốc giảm đau, kháng viêm thông thường để định hướng điều trị an toàn cho người bệnh.
Một bài tổng quan hệ thống công bố năm 2012 đã tìm kiếm dữ liệu trên Medline, Embase, Thư viện Cochrane và các tóm tắt hội nghị năm 2008/2009 của ACR, EULAR để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của paracetamol trong việc kiểm soát cơn đau ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp [2]. Tổng quan xác định được 11 bài báo gồm 12 thử nghiệm lâm sàng và 1 nghiên cứu quan sát trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp [2]. Kết quả cho thấy các thử nghiệm đều có thời gian ngắn, dùng liều paracetamol không điển hình và đều có nguy cơ sai lệch cao [2]. Bằng chứng về lợi ích của paracetamol so với giả dược là rất yếu, và có lợi ích cộng gộp yếu khi phối hợp với thuốc chống viêm không steroid (NSAID), trong khi lợi ích so với dùng NSAID đơn độc là không chắc chắn [2]. Về mặt an toàn, một nghiên cứu đoàn hệ ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ biến cố tiêu hoá nghiêm trọng khi dùng paracetamol so với NSAID nếu dùng đồng thời với corticosteroid và các thuốc giảm đau khác [2]. Tổng quan kết luận rằng bằng chứng về hiệu quả của paracetamol trong viêm khớp còn yếu và không đủ dữ liệu an toàn đặc thù để đưa ra kết luận chắc chắn [2].
Đối với nhóm thuốc chống viêm không steroid (NSAID), một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi đối chứng song song kéo dài 3 tháng công bố năm 1996 trên 292 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đã so sánh giữa aceclofenac (145 người) và tenoxicam (147 người) [3]. Nghiên cứu có 237 bệnh nhân hoàn thành thử nghiệm (đạt 81,1%) [3]. Cả hai nhóm điều trị đều cho thấy sự cải thiện các thông số lâm sàng được theo dõi từ ngày thứ 15 và tiếp tục duy trì đến cuối đợt thử nghiệm, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa aceclofenac và tenoxicam [3]. Về mặt an toàn, có 24 bệnh nhân (8,2%, gồm 12 người nhóm aceclofenac và 12 người nhóm tenoxicam) ngưng tham gia do kém hiệu quả, và 15 người ngưng do tác dụng phụ (5,1%, gồm 6 người nhóm aceclofenac và 9 người nhóm tenoxicam), trong đó 7 trường hợp do không dung nạp đường tiêu hoá (2,4%, gồm 1 người nhóm aceclofenac và 6 người nhóm tenoxicam, p = 0,052) [3]. Nghiên cứu chỉ ra aceclofenac có hiệu quả tương đương tenoxicam nhưng hồ sơ an toàn tốt hơn, chủ yếu ở khả năng dung nạp đường tiêu hoá [3].
Các liệu pháp tiên tiến trong điều trị viêm khớp dạng thấp
Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn liên quan đến nhiều cytokine gây viêm như yếu tố hoại tử u alpha (TNF-alpha), interleukin-1 và interleukin-6 [4]. Thuốc kháng TNF-alpha và kháng interleukin-1 đã được dùng thành công nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả với mọi ca bệnh [4]. Interleukin-6 là một phân tử đích khác, và kháng thể đơn dòng tocilizumab kháng thụ thể interleukin-6 đã được chứng minh hiệu quả và an toàn qua các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, viêm khớp tự phát thiếu niên và bệnh Crohn [4].
Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã phân tích sâu về các thuốc sinh học khác: Một phân tích gộp năm 2010 gồm 8 nghiên cứu trên 2.692 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đã đánh giá kháng thể đơn dòng adalimumab ở các liều 20 mg tiêm dưới da hàng tuần hoặc 40 mg mỗi 2 tuần so với giả dược [5]. Tỷ lệ bệnh nhân đạt mốc đáp ứng ACR20, ACR50 và ACR70 ở nhóm adalimumab vượt trội hơn nhóm giả dược từ 6 tháng đến 2 năm điều trị [5]. Tỷ lệ rút khỏi nghiên cứu do thiếu hiệu quả cao hơn ở nhóm giả dược, nhưng rút khỏi nghiên cứu do tác dụng phụ lại cao hơn ở nhóm dùng adalimumab, nhắc nhở các bác sĩ lâm sàng cần thận trọng về tác dụng không mong muốn [5].
Một nghiên cứu quan sát tiến cứu kéo dài 12 tháng năm 2012 theo dõi 33 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp hoạt động được điều trị bằng adalimumab phối hợp thuốc điều trị cổ điển [6]. Sau 3 tháng, 51,5% bệnh nhân đạt ACR20, 39,3% đạt ACR50 và 9% đạt ACR70 [6]. Sau 6 tháng, tỷ lệ đạt ACR20 là 66,6% và ACR50 là 33,3%, với 30,3% đáp ứng tốt và 66,6% đáp ứng vừa [6]. Sau 9 và 12 tháng, tỷ lệ đạt lui bệnh (DAS28 <= 2,6) lần lượt là 24,2% và 45,4%, cho thấy thuốc có hiệu quả và dung nạp tốt trong thực hành thực tế [6].
Một nghiên cứu tiến cứu khác năm 2005 trên 70 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị bằng adalimumab trong thực hành lâm sàng thông thường ghi nhận 77% bệnh nhân đạt đáp ứng EULAR (26% đáp ứng tốt, 51% đáp ứng vừa) và 19% đạt lui bệnh [7]. Điểm DAS28 giảm trung bình 2,1 (từ 6,3 xuống 4,2; p < 0,001), chỉ số HAQ giảm trung bình 0,34 (từ 2,07 xuống 1,73; p < 0,001) với 66% đạt mức giảm có ý nghĩa lâm sàng lớn hơn 0,22 [7]. Tỷ lệ ngưng thuốc là 23% do tác dụng phụ (7%) hoặc không đáp ứng (16%) [7]. Đáng chú ý, trong 26 bệnh nhân từng thất bại với 29 thuốc sinh học trước đó, 65% vẫn đáp ứng với adalimumab; ở 13 người thất bại thứ phát với infliximab, 77% đáp ứng với adalimumab và cải thiện DAS tốt hơn nhóm thất bại nguyên phát (p = 0,023) [7].
Năm 2020, một bài tổng quan hệ thống phân tích 4 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi giai đoạn 3 kéo dài 52 tuần (từ năm 2017 đến 2019) về các thuốc sinh học và DMARD mới dùng đơn độc hoặc kết hợp methotrexate [1]. Tỷ lệ đáp ứng ACR20 ghi nhận sự cải thiện: SB5 đạt 72,4% ở tuần 24, Baricitinib đạt 70% ở tuần 12, Pefacitinib 100 mg và 150 mg đạt 57,7% và 74,5% ở tuần 12, Sirukumab 50 mg và 100 mg đạt 55% và 54% ở tuần 16 [1]. Các tỷ lệ ACR50 và ACR70 cũng cao hơn ở nhóm điều trị với biên độ an toàn chấp nhận được [1].
Gần đây hơn, một phân tích post hoc năm 2023 từ các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 (DARWIN 1-2), giai đoạn 3 (FINCH 1-3) và nghiên cứu mở rộng dài hạn (DARWIN 3, FINCH 4) đã đánh giá thuốc ức chế JAK filgotinib trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp [8]. Ở tuần 12, tỷ lệ bệnh nhân dùng liều 200 mg hoặc 100 mg đạt đáp ứng ACR20 cao hơn có ý nghĩa so với giả dược (p < 0,01), đồng thời mức giảm chỉ số tàn tật HAQ-DI cũng lớn hơn nhóm giả dược (p < 0,05) [8]. Ở tuần 24, tỷ lệ đạt DAS28(CRP) <= 3,2 ở cả hai mức liều filgotinib đều vượt trội so với giả dược (p < 0,01) ở hầu hết các khu vực địa lý, với hồ sơ an toàn đồng nhất [8].
Giới hạn của các bằng chứng và rủi ro từ cây biến hoá
Các phân tích khoa học trên cho thấy: Ngay cả những hoạt chất giảm đau hay thuốc sinh học được nghiên cứu bài bản ở hàng nghìn bệnh nhân vẫn đòi hỏi theo dõi chặt chẽ vì nguy cơ biến cố đường tiêu hoá, nhiễm trùng hoặc phản ứng phụ [2, 4, 7, 8].
Trong khi đó, cây biến hoá là dược liệu truyền miệng hoàn toàn không có bất kỳ dữ liệu lâm sàng nào về thành phần hoạt tính, ngưỡng an toàn hay liều độc. Tự ý sắc uống nước cây biến hoá không những không thể ngăn chặn được quá trình huỷ hoại khớp của bệnh tự miễn mà còn tạo gánh nặng lọc thải khổng lồ lên thận. Suy thận mạn tiến triển âm thầm do thảo dược không rõ nguồn gốc là nguyên nhân thường gặp khiến người bệnh phải lọc máu định kỳ.
Ai nên đặc biệt thận trọng?
Người mắc bệnh phong thấp, đau nhức khớp lâu năm càng cần cảnh giác tối đa, đặc biệt là các nhóm đối tượng sau:
- Người cao tuổi có chức năng gan hoặc thận đã suy giảm tự nhiên theo độ tuổi.
- Bệnh nhân có tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng, bệnh tim mạch hoặc suy thận mạn tính.
- Người đang dùng các thuốc ức chế miễn dịch, thuốc chống viêm hoặc thuốc sinh học theo chỉ định của bác sĩ: Việc uống thêm thảo dược lạ có thể gây tương tác thuốc nguy hiểm.
Lời khuyên áp dụng thực tế và an toàn cho người bệnh
Để kiểm soát bệnh khớp hiệu quả và bảo vệ toàn diện chức năng thận, người bệnh nên thực hiện lối sống lành mạnh và tuân thủ y khoa:
- Thăm khám chuyên khoa cơ xương khớp ngay khi xuất hiện dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau cứng khớp vào buổi sáng để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân.
- Tuyệt đối không tự ý mua các loại lá cây, rễ cây trôi nổi như cây biến hoá hoặc thuốc bột "gia truyền" không nhãn mác để uống.
- Chế độ ăn uống: Bổ sung thực phẩm giàu chất chống oxy hoá, uống đủ nước mỗi ngày nhằm hỗ trợ thận thanh thải độc tố.
- Vận động nhẹ nhàng: Tập thể dục phù hợp với sức chịu đựng của khớp như bơi lội, đi bộ nhẹ nhàng hoặc dưỡng sinh giúp duy trì tầm vận động của khớp.
Bệnh lý phong thấp và viêm khớp đòi hỏi quá trình điều trị bài bản, kiên trì dưới sự theo dõi của bác sĩ chuyên khoa. Người bệnh không nên đặt cược sức khoẻ và tính mạng vào những lời đồn vô căn cứ về cây biến hoá. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi dùng bất kỳ sản phẩm hỗ trợ nào để tránh nguy cơ suy thận mạn đáng tiếc.


