Đan sa trong y học cổ truyền và nỗi lo nhiễm độc thủy ngân

Đan sa (hay chu sa) là khoáng vật tự nhiên chứa hàm lượng thủy ngân sulfua (HgS) rất cao, thường chiếm từ 95% đến hơn 96% [6, 8]. Trong y học cổ truyền phương Đông, dược liệu này đã được sử dụng hàng nghìn năm qua nhiều bài thuốc trị mất ngủ, hồi hộp, sốt cao hay co giật [2, 6]. Tuy nhiên, vì thủy ngân đứng đầu danh sách các kim loại nặng độc hại, sự hiện diện của đan sa trong các phương thuốc luôn dấy lên mối lo ngại lớn về an toàn sức khỏe [1].

Nhiều người lầm tưởng rằng đan sa là khoáng chất tự nhiên nên hoàn toàn vô hại khi dùng theo đơn thuốc cổ truyền. Thực tế, y học hiện đại đã ghi nhận việc tích lũy thủy ngân từ đan sa có thể gây tổn thương nghiêm trọng đến thận, gan và hệ thần kinh trung ương [2]. Việc hiểu rõ bản chất hóa học, mức độ độc tính và nguy cơ tích lũy sinh học của vị thuốc này là điều cấp thiết để phòng ngừa nguy cơ ngộ độc tiềm ẩn.

Bản chất hóa học và cơ chế hấp thu của đan sa trong cơ thể

Đan sa chứa thành phần chủ yếu là thủy ngân sulfua (HgS) ở dạng trơ về mặt hóa học, không tan trong nước và rất khó hấp thu qua đường tiêu hóa [2, 6]. Nhờ đặc tính kém tan này, mức độ hấp thu thủy ngân từ đan sa vào máu thấp hơn rất nhiều so với các muối thủy ngân hòa tan như thủy ngân clorua (HgCl2) hay dạng hữu cơ nguy hiểm như methylmercury (MeHg) [1, 2, 5]. Thậm chí, liều đan sa cần thiết để gây độc thần kinh trên động vật cao hơn gấp 1.000 lần so với methylmercury [1].

Khi vào đường ruột, vi khuẩn đường ruột của con người có thể chuyển hóa đan sa thành dạng polysulfide thủy ngân không độc thay vì tạo thành methylmercury [2]. Đan sa cũng làm giảm biểu hiện mRNA và protein của chất vận chuyển oligopeptide 1 (PEPT1) tại biểu mô ruột, từ đó hạn chế bớt lượng kim loại ngấm vào vòng tuần hoàn [2]. Dù vậy, một phần thủy ngân sau khi hấp thu vẫn được đưa đến các cơ quan nội tạng và tích lũy chủ yếu tại thận theo mô hình phân bố tương tự thủy ngân vô cơ [1]. Khi bị đun nóng hoặc hỏa biến sai cách, đan sa giải phóng hơi thủy ngân nguyên tố, gây ngộ độc đường hô hấp cực kỳ nguy hiểm [1].

Nghiên cứu khoa học: Nguy cơ tổn thương và suy giảm chức năng thận

Thận là cơ quan đích chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi cơ thể tiếp xúc với đan sa kéo dài. Nhiều thử nghiệm tiền lâm sàng đã phân tích chi tiết tác động của dược liệu này lên các tế bào ống thận và cầu thận:

Một nghiên cứu công bố năm 2015 trên chuột cống trắng được cho uống đan sa với liều 1 g/kg/ngày liên tục trong 8 tuần hoặc 12 tuần [3]. Kết quả cho thấy nồng độ thủy ngân trong thận (RHg), thủy ngân nước tiểu (UHg) và phân tử chỉ dấu tổn thương thận 1 (KIM-1) trong nước tiểu đều tăng cao rõ rệt so với nhóm chứng, dù chỉ số creatinin huyết thanh (SCr) chưa biến đổi [3]. Kiểm tra mô bệnh học phát hiện tổn thương tập trung ở ống thận và mô kẽ, bao gồm hiện tượng không bào hóa, xuất hiện trụ protein, thâm nhiễm tế bào viêm và tăng nhẹ collagen mô kẽ, kèm theo tăng sinh nhẹ tế bào gian mao mạch cầu thận [3]. Nghiên cứu kết luận đan sa gây viêm thận và xơ hóa nhẹ do tích lũy thủy ngân sau thời gian dài sử dụng [3].

Năm 2025, một nghiên cứu khác đánh giá an toàn trên chuột nhắt được cho uống đan sa (50 mg/kg và 200 mg/kg), HgS (50 mg/kg) hoặc bài thuốc Chu Sa An Thần Hoàn (600 mg/kg) mỗi ngày trong 30 ngày [4]. Kết quả phân tích Western blot chỉ ra sự suy giảm đáng kể mức độ protein OAT1 (chất vận chuyển anion hữu cơ 1) và GPX4 ở tất cả các nhóm can thiệp so với nhóm chứng [4]. Nhóm dùng đan sa liều cao (200 mg/kg) và nhóm dùng HgS đều kích hoạt con đường gây viêm NF-kappaB và biểu hiện tổn thương mô thận rõ rệt [4].

Tổn thương ống lượn gần do đan sa còn liên quan mật thiết đến sự kích hoạt con đường chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào ống thận cùng sự rối loạn biểu hiện các kênh vận chuyển anion hữu cơ OAT1 và OAT3 [2]. Dù ở cấp độ tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm, nồng độ cực thấp (4 nM) của đan sa có thể ức chế stress lưới nội chất (qua giảm CHOP và PERK) và chống oxy hóa trên tế bào ống thận người HK-2 khi bị bỏ đói dinh dưỡng [5], việc tích lũy liều tích lũy từ các bài thuốc dùng đường uống trong thời gian dài vẫn dẫn đến viêm thận mạn tính và suy giảm chức năng thận [1, 2, 4].

Tác động của đan sa lên hệ thần kinh trung ương và hành vi

Bên cạnh độc tính trên thận, hệ thần kinh là đích đến đáng lo ngại khác của thủy ngân tích tụ từ đan sa [2]. Nghiên cứu chỉ ra rằng tiểu não nhạy cảm với tác động của đan sa hơn so với đại não [2]. Khi tiếp xúc với liều cao đan sa hoặc HgS (1,0 g/kg/ngày liên tục trong 7 hoặc 14 ngày), chuột thí nghiệm bị nhiễm độc tai và nhiễm độc thần kinh rõ rệt, trong khi mức liều thấp 0,01 g/kg/ngày không biểu hiện độc tính cấp tính này [2].

Một thử nghiệm công bố năm 2013 so sánh đan sa, HgS tinh khiết (cùng liều 0,1 g/kg) và HgCl2 (0,01 g/kg) trên chuột đực C57BL/6J dùng liên tục trong 10 ngày [6]. Khác với lượng thủy ngân tăng vọt khi dùng muối HgCl2 hòa tan, lượng thủy ngân vào não ở nhóm dùng đan sa chỉ biến đổi nhẹ và duy trì ở mức ổn định khi tăng liều [6]. Đáng chú ý, đan sa và HgS có khả năng ức chế nồng độ chất dẫn truyền thần kinh serotonin (5-HT) trong não chuột, điều mà nhóm HgCl2 không gây ra dù nồng độ thủy ngân mô não cao hơn [6]. Phát hiện này cho thấy tác động dược lý an thần cũng như độc tính thần kinh của đan sa vận hành theo những con đường sinh học riêng biệt [6].

Về mặt giải phẫu bệnh lý khi nhiễm độc mạn tính, tổn thương tế bào vỏ não và tiểu não biểu hiện qua hoại tử tế bào thần kinh khu trú, ly giải tế bào, thực bào và tăng sinh tế bào thần kinh đệm [7]. Ban đầu tổn thương gây phù não cấp, lâu dần dẫn đến teo não và xơ hóa [7]. Các biểu hiện lâm sàng khi hệ thần kinh bị tổn thương gồm có mất cảm giác, thất điều vận động, dáng đi loạng choạng, nuốt khó, và nặng nhất là tiến triển tới hôn mê hoặc tử vong [7].

Hiểu lầm thường gặp về độc tính của đan sa

Sai lầm phổ biến nhất là cho rằng đan sa hoàn toàn giống với các hợp chất thủy ngân độc hại khác như thủy ngân clorua hay methylmercury [1]. Nhờ cấu trúc HgS không tan, đan sa có độc tính đường uống thấp hơn đáng kể so với các muối thủy ngân vô cơ hòa tan và thủy ngân hữu cơ [1, 2, 7]. Tuy vậy, hiểu lầm ngược lại—coi đan sa là "thuốc lành vô hại" vì là khoáng chất tự nhiên—càng nguy hiểm hơn [1].

Nhiều người tin rằng độc tính chỉ xảy ra khi dùng quá liều cấp tính. Trên thực tế, thủy ngân sulfua đào thải rất chậm qua thận và phân, dẫn đến hiện tượng tích lũy sinh học âm thầm [1, 2, 6]. Việc uống các bài thuốc cổ phương chứa đan sa kéo dài từ tuần này sang tháng khác có thể gây tổn thương mô kẽ thận và suy giảm chức năng lọc của thận ngay cả khi chưa xuất hiện triệu chứng cấp tính rầm rộ bên ngoài [2, 6]. Thêm vào đó, việc tự ý tán bột, sắc hoặc đun nóng bài thuốc có đan sa sẽ biến HgS thành dạng hơi thủy ngân bay lên, làm tăng vọt nguy cơ ngộ độc hít cấp tính [1].

Đối tượng cần thận trọng tuyệt đối

Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú là nhóm đối tượng cần đặc biệt tránh xa đan sa. Một nghiên cứu năm 2012 theo dõi tác động của đan sa liều thấp (10 mg/kg/ngày) trên các thế hệ chuột nhắt trong giai đoạn chu sinh và phát triển [8]. Kết quả chỉ ra rằng việc tiếp xúc với đan sa trong giai đoạn chu sinh gây tích lũy thủy ngân trong mô não thai nhi, làm biến đổi nồng độ NOx và hoạt tính enzym Na+/K+-ATPase, dẫn đến các khuyết tật hành vi thần kinh nghiêm trọng và không thể đảo ngược ở chuột con thuộc các thế hệ F1 và F2 [8]. Não bộ đang phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh đặc biệt nhạy cảm trước tổn thương do đan sa gây ra [8].

Ngoài ra, trẻ nhỏ cũng là đối tượng có nguy cơ ngộ độc thủy ngân rất cao. Tiếp xúc mạn tính với các hợp chất thủy ngân vô cơ từng được ghi nhận gây hội chứng Acrodynia (bệnh da hồng) ở trẻ em, biểu hiện đặc trưng bởi bàn tay và bàn chân sưng đỏ, đau đớn [7]. Những người có bệnh lý nền về suy thận, viêm cầu thận, suy giảm chức năng gan hoặc rối loạn thần kinh cần tuyệt đối không tiếp xúc với dược liệu này để tránh kích hoạt phản ứng viêm mô kẽ và suy thận tiến triển [3, 4, 6].

Khuyến cáo áp dụng thực tế và xử trí an toàn

Đan sa hiện diện trong một số chế phẩm thuốc cổ truyền nổi tiếng, chẳng hạn như bài thuốc An Cung Ngưu Hoàng Hoàn, Ngưu Hoàng Thanh Cung Hoàn hay Chu Sa An Thần Hoàn [3, 6]. Dù vậy, theo các nghiên cứu độc học, cơ sở lý luận điều trị của việc đưa đan sa vào thuốc y học cổ truyền hiện vẫn chưa được chứng minh đầy đủ để bù trừ cho nguy cơ ngộ độc kim loại nặng [1].

Để đảm bảo an toàn sinh mạng, người dân tuyệt đối không tự ý mua bột đan sa hoặc chu sa trôi nổi về sử dụng, không tự ý thêm vị thuốc này vào các thang thuốc sắc tại nhà. Tuyệt đối không được đun nấu, hỏa biến đan sa ở nhiệt độ cao vì nhiệt độ sẽ phân hủy hợp chất thành hơi thủy ngân cực độc [1]. Bất kỳ chế phẩm chứa đan sa nào nếu được chỉ định phải tuân thủ nghiêm ngặt đơn thuốc của bác sĩ y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề, chỉ dùng liều lượng vừa phải trong thời gian ngắn nhất định, không dùng kéo dài [1, 2, 6].

Trong trường hợp xảy ra ngộ độc thủy ngân do đan sa, y học hiện đại áp dụng các liệu pháp dùng thuốc gắp kim loại (liệu pháp chelation) như dimercaprol hoặc succimer để thúc đẩy đào thải kim loại nặng ra ngoài cơ thể [1]. Khi nghi ngờ có dấu hiệu nhiễm độc như run rẩy, đi đứng loạng choạng, tiểu ít, sưng phù hoặc đau tức vùng thận sau khi uống thuốc đông y, người bệnh cần ngừng thuốc ngay lập tức và đến bệnh viện chuyên khoa để làm xét nghiệm độc chất và can thiệp kịp thời [2, 4, 6].

Tóm lại, đan sa là khoáng dược chứa hàm lượng thủy ngân rất lớn với đặc tính hấp thu chậm nhưng tích lũy dai dẳng. Dù ít độc hơn các dạng thủy ngân hòa tan, rủi ro tổn thương thực thể ở thận và hệ thần kinh trung ương khi dùng kéo dài là có thật. Người bệnh cần tỉnh táo, tham vấn ý kiến chuyên môn của bác sĩ và không bao giờ tự ý sử dụng các bài thuốc chứa kim loại nặng này.