Nhiều người có thói quen sử dụng thêm các loại cây cỏ, thảo dược tự nhiên với mong muốn bồi bổ cơ thể hoặc hỗ trợ điều trị bệnh mà không hay biết về nguy cơ tương tác thuốc. Trong đó, việc dùng dược thảo hồng mai khi đang điều trị bằng thuốc chống đông máu là một vấn đề sức khỏe rất đáng lưu tâm. Người bệnh đang sử dụng các thuốc chống đông nhóm coumarin cần hết sức cảnh giác vì sự xuất hiện của các hợp chất tự nhiên có cùng đặc tính coumarin có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết nghiêm trọng.

Các dẫn xuất chống đông nhóm coumarin vốn có khoảng điều trị hẹp và rất nhạy cảm với các yếu tố phối hợp đi kèm [1]. Việc tự ý bổ sung thêm các thành phần có bản chất coumarin từ thảo dược như hồng mai có thể dẫn đến hiện tượng hiệp đồng tác dụng, khiến thời gian đông máu kéo dài quá mức và đẩy người bệnh vào tình trạng nguy hiểm [2].

Cơ chế tác động và tương tác thuốc dẫn đến xuất huyết

Nhóm thuốc chống đông coumarin hoạt động bằng cách can thiệp vào quá trình sản xuất các yếu tố đông máu tại gan, từ đó ngăn ngừa hình thành các cục máu đông [1]. Liều lượng thuốc luôn phải được kiểm soát rất nghiêm ngặt thông qua chỉ số xét nghiệm đông máu (INR) [1]. Bất kỳ sự xáo trộn nào về nồng độ thuốc hoặc sự cộng hưởng từ các chất có hoạt tính tương tự đều có thể làm xô lệch cán cân đông máu mong manh này [5, 8].

Khi người bệnh nạp thêm coumarin từ nguồn thảo mộc như hồng mai trong lúc dùng thuốc chống đông máu, hiệu quả chống đông có thể bị tăng cường quá mức [2]. Tình trạng này làm giảm khả năng cầm máu tự nhiên của cơ thể [1]. Hậu quả là người bệnh dễ gặp phải các biến chứng xuất huyết từ nhẹ như bầm tím dưới da, chảy máu chân răng cho đến nặng như xuất huyết tiêu hóa hoặc xuất huyết não đe dọa tính mạng [1, 2].

Nghiên cứu quy mô lớn về nguy cơ xuất huyết do thuốc coumarin

Mức độ nguy hiểm của các biến chứng chảy máu trong quá trình điều trị bằng coumarin đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu thực tế. Điển hình là nghiên cứu thuần tập theo dõi trong 12 tháng từ tháng 1 năm 1988 tại Hà Lan trên 6.814 bệnh nhân của Trung tâm Huyết khối Leiden [3]. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tần suất biến chứng chảy máu và các yếu tố nguy cơ khi dùng thuốc chống đông đường uống [3].

Kết quả ghi nhận có 1.003 biến cố chảy máu (tỷ lệ 16,5 trên 100 năm điều trị), trong đó có 162 ca chảy máu nặng (chiếm 2,7 trên 100 năm điều trị) [3]. Nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ chảy máu tăng lên đáng kể theo tuổi tác, tăng 32% cho tổng số các ca chảy máu và tăng 46% cho biến cố chảy máu nặng với mỗi 10 năm tăng thêm của độ tuổi khi so với nhóm dưới 40 tuổi [3]. Đặc biệt, cứ mỗi một điểm tăng thêm của chỉ số xét nghiệm đông máu INR, nguy cơ xuất huyết nặng tăng thêm 42% và tổng nguy cơ chảy máu tăng 54% [3]. Ngoài ra, việc dùng dẫn xuất acenocoumarol có tỷ lệ chảy máu ít hơn 26% tổng số ca và ít hơn 46% ca chảy máu nặng so với dùng phenprocoumon [3]. Giới hạn của nghiên cứu là tập trung chủ yếu vào số liệu theo dõi lâm sàng tại một hệ thống trung tâm huyết khối đơn lẻ, nhưng đã phản ánh rõ tính chất nhạy cảm của liều lượng thuốc coumarin [3].

Bằng chứng về sự nguy hiểm từ tương tác thuốc với coumarin

Các dẫn xuất chống đông nhóm coumarin rất dễ gặp tương tác dẫn đến hậu quả nghiêm trọng [1, 3]. Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu phân tích trên cơ sở dữ liệu Hệ thống Liên kết Hồ sơ PHARMO tại Hà Lan giai đoạn 1991-2003 trên 76.455 người dùng phenprocoumon hoặc acenocoumarol đã đánh giá tần suất tương tác thuốc trong đời sống thực tế [4]. Kết quả cho thấy 48.627 người (chiếm 64%) đã được cấp phát ít nhất một loại thuốc có khả năng gây tương tác [4]. Trong số đó, khoảng 35% trường hợp tiếp xúc với thuốc tương tác mạnh hoặc rất mạnh, và 3% được cấp thuốc có chống chỉ định phối hợp [4].

Thực tế này lý giải vì sao việc vô tình dùng thêm bất kỳ chất hay dược liệu nào có khả năng tương tác với coumarin đều làm tăng vọt rủi ro nhập viện [4]. Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu khác từ PHARMO trên 52.102 người dùng acenocoumarol và 7.885 người dùng phenprocoumon (độ tuổi từ 40 đến 80 tuổi) đóng góp 139.159 người-năm theo dõi đã xác định mức độ nguy hiểm của việc phối hợp thuốc [5]. Đã có 838 bệnh nhân (1,4%) phải nhập viện vì chảy máu trong thời gian dùng coumarin [5]. Trong số 62 loại kháng sinh được sử dụng, có 19 loại liên quan đến đợt xuất huyết và 10 loại làm tăng nguy cơ chảy máu có ý nghĩa thống kê [5].

Nguy cơ tương đối bị chảy máu tăng gấp 3 đến 5 lần đối với doxycycline, amoxicillin, amoxicillin/clavulanic acid, ciprofloxacin, cotrimoxazole, azithromycin và pheneticillin; tăng gấp 9 lần đối với tetracycline; và tăng vọt lên 43 lần đối với cefradine và neomycin [5]. Kết luận nghiên cứu khẳng định việc phối hợp thêm các tác nhân tương tác làm khuếch đại nguy cơ xuất huyết nặng [5].

Các yếu tố làm gia tăng mức độ rủi ro khi dùng thuốc chống đông

Một nghiên cứu thuần tập hồi cứu khác trên 19.935 người mới bắt đầu dùng phenprocoumon hoặc acenocoumarol từ năm 1992 đến năm 2000 trong hệ thống PHARMO (độ tuổi 40-80) đã ghi nhận 552 bệnh nhân phải nhập viện vì chảy máu [6]. Kết quả chỉ ra các thuốc kháng khuẩn làm tăng nguy cơ chảy máu từ 4 đến 7 lần, thuốc chống viêm không steroid (NSAID) như naproxen có nguy cơ tương đối cao nhất, trong khi các salicylat chống huyết khối và tramadol làm tăng nguy cơ chảy máu gấp 3 lần [6].

Bên cạnh đó, nghiên cứu quan sát kéo dài 1 năm nhằm so sánh nguy cơ biến chứng chảy máu khi kết hợp coumarin với thuốc kháng viêm NSAID so với việc dùng coumarin đơn độc đã ghi nhận 738 vụ xuất huyết ở 681 người dùng coumarin [7]. Trong số này, có 12,2% trường hợp có liên quan đến việc dùng kèm NSAID, trong khi tỷ lệ được kê đơn NSAID ở toàn bộ dân số dùng coumarin chỉ là 2,5% [7]. Từ đó, nguy cơ tương đối bị biến chứng chảy máu do dùng kèm coumarin và NSAID được ước tính tăng gấp 5,8 lần [7].

Các yếu tố quyết định chính đến tình trạng chảy máu liên quan đến coumarin bao gồm: cường độ của tác dụng chống đông đo bằng chỉ số INR, đặc điểm riêng của bệnh nhân, thời gian điều trị và việc dùng đồng thời các hoạt chất khác [1]. Những tương tác thường gặp có thể gây tăng cường tác dụng chống đông dẫn tới nguy cơ xuất huyết, hoặc ức chế tác dụng chống đông dẫn tới nguy cơ hình thành cục máu đông [2]. Do đó, người bệnh phải hết sức cảnh giác trước mọi hoạt chất lạ được đưa vào cơ thể [5, 8].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo mộc song song với thuốc tây

Một sai lầm rất phổ biến là nhiều người mặc định các loại cây cỏ, thảo dược thiên nhiên như hồng mai hoàn toàn lành tính và không thể gây tương tác với thuốc tây. Điều này không đúng, bởi thảo dược chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học rất mạnh [2]. Khi các chất này đi vào cơ thể, chúng chuyển hóa qua các con đường tương tự như tân dược và có thể can thiệp trực tiếp vào dược động học lẫn dược lực học của thuốc chống đông [5, 8].

Một hiểu lầm khác là cho rằng chỉ khi có vết thương hở lớn thì mới đáng lo ngại. Trên thực tế, tương tác thuốc làm suy giảm khả năng đông máu có thể gây ra xuất huyết nội tạng âm thầm, xuất huyết đường tiêu hóa khó phát hiện hoặc làm tăng nguy cơ đột quỵ do xuất huyết não [1, 2, 7].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Những người đang dùng thuốc chống đông nhóm coumarin (như warfarin, acenocoumarol, phenprocoumon) để điều trị và dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, động mạch hoặc bệnh nhân rung nhĩ phải tuyệt đối cẩn trọng [4, 5, 7]. Thuốc chống đông giúp giảm tới 60% nguy cơ biến cố thuyên tắc, đặc biệt là đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ [8]. Nhóm đối tượng này không nên tự ý dùng thêm hồng mai hay bất kỳ chế phẩm thảo mộc nào có chứa thành phần coumarin nếu chưa có chỉ định y khoa [5, 8].

Người cao tuổi cần cẩn trọng hơn cả, bởi nguy cơ chảy máu do coumarin tăng tiến rõ rệt theo từng mốc tuổi tác [3]. Ngoài ra, những bệnh nhân chuẩn bị thực hiện các thủ thuật xâm lấn hoặc phẫu thuật cũng nằm trong diện nguy cơ cao [8]. Khoảng 10% bệnh nhân dùng thuốc chống đông đường uống mạn tính cần can thiệp thủ thuật mỗi năm, đòi hỏi bác sĩ phải đánh giá kỹ lưỡng nguy cơ xuất huyết và nguy cơ thuyên tắc huyết khối để quyết định tạm ngưng thuốc hoặc dùng liệu pháp bắc cầu thích hợp [8]. Tự ý dùng thêm thảo dược trong giai đoạn này có thể làm mất kiểm soát lượng máu mất trong mổ [8].

Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn cho người bệnh

Để phòng tránh biến chứng xuất huyết nguy hiểm, người bệnh đang dùng thuốc chống đông máu tuyệt đối không được tự ý kết hợp các bài thuốc dân gian, thảo dược như hồng mai khi chưa có sự đồng ý của bác sĩ điều trị [5, 8]. Hãy lập một danh sách đầy đủ tất cả các loại thuốc, thực phẩm chức năng và thảo dược đang dùng để thông báo cho bác sĩ trong mỗi lần thăm khám [3, 5].

Đồng thời, bệnh nhân cần tuân thủ lịch tái khám định kỳ để kiểm tra chỉ số đông máu INR, đảm bảo cường độ chống đông luôn nằm trong ngưỡng an toàn [5, 7]. Trong sinh hoạt hàng ngày, cần chú ý theo dõi các dấu hiệu cảnh báo xuất huyết như vết bầm tím tự nhiên trên da, chảy máu cam, chảy máu chân răng kéo dài, nước tiểu có màu đỏ hoặc đi ngoài phân đen [1, 7]. Nếu phát hiện bất kỳ triệu chứng bất thường nào, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được kiểm tra và xử trí kịp thời [1, 2].

Việc điều trị bằng thuốc chống đông đòi hỏi sự cân bằng chặt chẽ giữa lợi ích ngăn ngừa cục máu đông và rủi ro chảy máu [1]. Người bệnh hãy là một người tiêu dùng thông thái, luôn lắng nghe tư vấn chuyên môn từ bác sĩ thay vì tự ý dùng các bài thuốc truyền miệng để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của chính mình.