Nhiều người đi hái thuốc nam thường nhầm lẫn giữa các loài dây leo hoang dại mọc quanh bờ rào hay bụi rậm. Trong đó, dây vác và dây chìa vôi là hai cái tên thường xuyên bị đặt cạnh nhau, thậm chí gọi thay thế cho nhau do cùng mang tập tính thân leo và có những nét tương đồng về môi trường sống.

Thực tế, dây vác (tên khoa học là Cayratia trifolia) và chìa vôi (thuộc chi Cissus) là hai loài thực vật hoàn toàn khác biệt dù cùng chung họ Nho (Vitaceae) [2, 7]. Việc hiểu rõ đặc điểm hình thái và thành phần hoạt chất giúp người dân tránh nhầm lẫn khi thu hái, bảo đảm an toàn khi sử dụng làm dược liệu hoặc thực phẩm dân dã.

Nguồn gốc phân loại và mối liên hệ thực vật học

Theo các nghiên cứu phân loại thực vật học hiện đại, họ Nho (Vitaceae) gồm 16 chi với khoảng 950 loài dây leo phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới [1]. Họ này được chia thành 5 tông riêng biệt, trong đó chi Cayratia (chứa cây vác) thuộc tông Cayratieae, còn chi Cissus (chứa các loài chìa vôi) nằm ở tông Cisseae [1].

Phân tích di truyền lục lạp cho thấy chi Cayratia tạo thành một nhóm phát sinh loài cùng với các chi Tetrastigma và Cyphostemma [2]. Trong khi đó, các loài thuộc chi Cissus ở châu Á lại tạo thành một nhánh phát sinh riêng biệt [2]. Điều này khẳng định dây vác và chìa vôi có vị trí tiến hóa và đặc tính di truyền tách rời nhau từ rất sớm [3, 7].

Nhận biết dây vác qua đặc điểm hình thái

Dây vác (Cayratia trifolia) là một loài dây leo đa niên, có nguồn gốc tự nhiên tại Ấn Độ, các nước châu Á và Australia [3]. Ở Ấn Độ, cây phân bố từ các vùng đồi núi đến những khu vực nóng bức như Rajasthan, Assam hay vùng bán đảo ở độ cao lên tới 600 m [3].

Điểm nhận dạng đặc trưng nhất của cây vác là cấu trúc lá kép gồm 3 lá chét [3]. Cuống lá chính dài từ 2 đến 3 cm [2, 6]. Các lá chét có phiến hình bầu dục hoặc trứng ngược dài, chiều dài dao động từ 2 đến 8 cm và chiều rộng từ 1,5 đến 5 cm, đầu lá nhọn [4]. Bề mặt lá có khí khổng bất đẳng bào, gân lá phân nhánh rõ ràng và có nhiều lông che chở đa bào một dãy mọc từ biểu bì trên [4].

Hoa của cây vác nhỏ, có màu trắng ánh xanh hoặc nâu [3]. Quả vác thuộc dạng quả mọng nước, gần tròn với đường kính khoảng 1 cm, khi chín chuyển sang màu tím đậm hoặc đen [3]. Hạt của chi Cayratia mang hình dạng đường cong trái tim đặc trưng khi phân tích hình học [1].

Thành phần hóa học đa dạng trong cây vác

Nhiều nghiên cứu hóa thực vật sơ bộ ghi nhận toàn cây vác chứa các hợp chất như dầu sáp màu vàng, steroid, terpenoid, triterpene, tannin và epifriedelanol [2, 4]. Chiết xuất cồn từ dây vác còn phân lập được hợp chất tự nhiên có cấu trúc tương tự axit linoleic với các nhóm chức hydroxyl và liên kết đôi [5].

Bộ phận lá của cây vác tập trung hàm lượng phong phú các dẫn xuất stilbene quý như piceid, resveratrol, viniferin và ampelopsin [3]. Ngoài ra, lá, thân và rễ còn chứa delphinidin cùng nhiều loại flavonoid như cyanidin, kaempferol, myricetin và quercetin [2, 4]. Cần lưu ý rằng các bộ phận thân, lá và rễ của loài cây này cũng được ghi nhận có chứa axit hydrocyanic tự nhiên [3].

Bằng chứng khoa học về hoạt tính sinh học

Các dữ liệu dược lý hiện đại ghi nhận chiết xuất vỏ cây vác có hoạt tính kháng virus, kháng khuẩn, chống động vật nguyên sinh, hạ đường huyết, chống ung thư và lợi tiểu [2, 5].

Một nghiên cứu công bố năm 2021 đã đánh giá tiềm năng hướng đích hóa trị của phân đoạn chiết n-hexane từ toàn cây vác trên dòng tế bào ung thư buồng trứng A2780 của người [6]. Phương pháp RT-PCR và Western blot được sử dụng để định lượng biểu hiện thụ thể CXCR4 và HER2 [6]. Kết quả cho thấy chiết xuất n-hexane ức chế đáng kể sự phát triển của tế bào ung thư với giá trị nồng độ ức chế tối thiểu 50% (IC50) là 46,25 ± 0,42 µg/mL [6]. Mức biểu hiện mRNA và protein của cả CXCR4 và HER2 đều suy giảm rõ rệt sau khi xử lý bằng chiết xuất, mở ra hướng nghiên cứu mới về thuốc chống ung thư [6].

Bên cạnh ứng dụng y học, nghiên cứu năm 2023 còn thử nghiệm lên men rượu từ dịch chiết quả vác bằng chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae 2.1 [7]. Thí nghiệm tiến hành trên quy mô bình 100 mL để tìm điều kiện tối ưu, sau đó mở rộng thử nghiệm ở quy mô 1 lít [7]. Kết quả cho thấy điều kiện lên men thích hợp là độ Brix ban đầu 24, nhiệt độ phòng từ 28 đến 33 độ C, mật độ men 10^7 tế bào/mL, độ pH 4,5 và thời gian ủ 11 ngày [7]. Rượu vang cây vác thành phẩm đạt nồng độ cồn 9,46% theo thể tích với hiệu suất lên men 90,34%, đáp ứng tốt các chỉ tiêu cảm quan màu sắc, mùi vị theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-3217:79 [7].

Nguy cơ nhầm lẫn và kinh nghiệm thu hái

Trong dân gian, sự nhầm lẫn giữa dây vác và dây chìa vôi xuất phát từ việc cùng là loài dây leo hoang dã thuộc họ Nho [2, 7]. Nhiều người chỉ nhìn sơ qua thân leo hoặc tua cuốn mà bỏ qua cấu trúc lá chét [2, 6].

Dây vác luôn sở hữu lá kép 3 lá chét rõ rệt với cuống riêng [2, 6]. Trong khi đó, các loài chìa vôi trong tự nhiên có thể mang dạng lá đơn xẻ thùy hoặc lá kép chân vịt khác biệt hoàn toàn [2]. Hạt của cây vác có dạng hình tim, khác với các kiểu hạt thuôn dài thường thấy ở một số loài họ Nho khác [1].

Tại một số vùng bản địa, bột nhão từ củ cây vác được dùng đắp ngoài để hỗ trợ xử lý vết rắn cắn [2, 4]. Nước sắc từ hạt kết hợp dịch chiết củ vác được dùng theo đường uống cho người đái tháo đường nhằm kiểm soát lượng đường trong máu [3]. Dân gian còn dùng toàn cây để lợi tiểu, hỗ trợ khối u, đau dây thần kinh và các bệnh về lách [3]. Tuy nhiên, việc nhầm lẫn với các loài cây khác có thể dẫn đến việc dùng sai liều lượng hoặc hấp thu nhầm các độc chất không mong muốn.

Ai nên thận trọng khi tiếp xúc và sử dụng?

Dù có nhiều hoạt tính sinh học, thân, lá và rễ của dây vác được ghi nhận có chứa axit hydrocyanic (HCN) – một hợp chất có khả năng gây ngộ độc nếu dùng tươi với số lượng lớn hoặc xử lý không đúng cách [3].

Chưa có nghiên cứu độc tính chi tiết trên phụ nữ có thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ; các dữ liệu hiện có mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trên dòng tế bào hoặc chiết xuất phòng thí nghiệm [4, 5]. Vì vậy, các nhóm đối tượng nhạy cảm này tuyệt đối không được tự ý sắc uống hay sử dụng các bài thuốc truyền miệng từ dây vác. Người đang điều trị bệnh nền bằng thuốc hạ đường huyết cũng cần thận trọng vì dịch chiết vác có tác dụng làm giảm đường máu, có thể gây cộng hưởng làm hạ đường huyết quá mức [2, 5].

Gợi ý thu hái và sử dụng an toàn

Khi thu hái ngoài tự nhiên, cần quan sát kỹ bộ phận lá: chỉ thu hái đúng cây leo có 3 lá chét hình bầu dục, mép lá nhọn, có quả mọng màu tím đen khi chín [2, 6]. Tránh thu hái ở những khu vực bờ rào gần nơi phun thuốc trừ sâu hoặc nguồn nước ô nhiễm.

Không tự ý đào rễ, củ hoặc hái lá tươi để nhai sống hay ép nước uống đậm đặc do nguy cơ tiềm ẩn từ axit hydrocyanic [3]. Mọi nhu cầu sử dụng dây vác làm dược liệu hỗ trợ bệnh lý cần được tư vấn kỹ lưỡng từ bác sĩ y học cổ truyền hoặc chuyên gia có chuyên môn.

Dây vác là một nguồn dược liệu quý chứa nhiều stilbene, flavonoid và tiềm năng lên men thực phẩm giá trị [1, 2]. Tuy nhiên, việc nhận diện chính xác hình thái 3 lá chét và hiểu rõ giới hạn nghiên cứu sẽ giúp người dùng khai thác an toàn, tránh những rủi ro sức khỏe đáng tiếc [2, 6].