Nhiều người bệnh ung thư và thân nhân thường tìm kiếm các bài thuốc dân gian với hy vọng tìm thấy một tia hy vọng chữa lành, trong đó thạch sùng (thằn lằn nhà) thường được đồn thổi như một phương thuốc kỳ diệu có khả năng làm teo khối u. Không ít lời truyền tai cho rằng các hợp chất sinh học hay peptide chiết xuất từ thạch sùng có thể ngăn chặn sự phát triển của tế bào ác tính.

Tuy nhiên, câu trả lời dựa trên bằng chứng khoa học hiện tại là: Hoàn toàn chưa có cơ sở khoa học xác thực nào chứng minh dịch chiết thạch sùng có thể tiêu diệt khối u hay chữa khỏi bệnh ung thư ở người. Mọi dữ liệu nghiên cứu về hoạt tính ức chế tế bào khối u hiện nay chỉ mới ghi nhận ở một số dược liệu và sinh vật khác trong phòng thí nghiệm, tuyệt đối không có dữ liệu lâm sàng nào khẳng định công dụng điều trị của thạch sùng.

Lời đồn dân gian và thực tế khoa học về thạch sùng

Trong đời sống thường ngày, hình ảnh con thạch sùng bám tường vốn rất quen thuộc nhưng lại bị gán ghép nhiều công năng thần bí trong điều trị các chứng bệnh nan y. Tin đồn bắt nguồn từ quan niệm dân gian cho rằng các loài bò sát có khả năng tái sinh đuôi thì cơ thể chúng cũng chứa các chất chống lại sự thoái hóa hay phân chia bất thường của tế bào. Từ đó, nhiều người truyền tai nhau cách bắt thạch sùng sống để nuốt, sấy khô tán bột hoặc ngâm rượu uống nhằm ngăn ngừa ung thư di căn.

Thực tế, y học thực chứng đòi hỏi mọi giả thuyết điều trị phải trải qua quy trình sàng lọc khắt khe từ ống nghiệm, mô hình động vật đến các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng trên người. Đến nay, các tài liệu y học và cơ sở dữ liệu nghiên cứu khoa học không cung cấp bất kỳ bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy nào xác nhận dịch chiết thạch sùng có hoạt tính tiêu diệt khối u an toàn. Việc gán ghép các hoạt tính sinh học chưa được kiểm chứng lên một loài động vật hoang dã tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe khó lường hơn là lợi ích điều trị.

Bản chất của các thử nghiệm ức chế tế bào trong ống nghiệm

Để hiểu rõ tại sao một chất được đồn là "ức chế khối u" nhưng lại không thể dùng làm thuốc, người bệnh cần nắm được quy trình nghiên cứu tiền lâm sàng. Các nhà khoa học thường bắt đầu bằng thử nghiệm in vitro, tức là đưa trực tiếp chiết xuất hoặc hợp chất tinh khiết vào đĩa nuôi cấy tế bào ung thư để quan sát mức độ kìm hãm sự tăng trưởng. Nếu tế bào ngừng nhân đôi hoặc chết đi, chất đó được ghi nhận là có độc tính tế bào đối với dòng ung thư cụ thể trong phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên, một chất có khả năng làm chết tế bào trong đĩa nhựa không có nghĩa là chất đó sẽ trở thành thuốc chữa bệnh an toàn trong cơ thể người sống. Trong ống nghiệm, tế bào ung thư tiếp xúc trực tiếp với hóa chất ở nồng độ cao mà không phải trải qua quá trình hấp thu qua đường tiêu hóa, chuyển hóa tại gan hay bài tiết qua thận. Rất nhiều hoạt chất thể hiện khả năng tiêu diệt tế bào ác tính rất mạnh trong phòng thí nghiệm nhưng lại cực kỳ độc hại với tế bào lành hoặc bị cơ thể đào thải hoàn toàn trước khi tiếp cận được khối u.

Nghiên cứu tiền lâm sàng thực tế đang thực hiện trên những nguồn nào?

Thay vì thạch sùng, nỗ lực tìm kiếm các phân tử có hoạt tính chống khối u trong tự nhiên của giới khoa học hiện tập trung vào các loài thực vật và vi nấm có nguồn gốc kiểm soát rõ ràng. Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã khảo sát hàng loạt mẫu sinh học để tìm ra các phân đoạn có khả năng ức chế tế bào ác tính, làm ví dụ điển hình cho quy trình sàng lọc dược chất.

Một nghiên cứu công bố năm 1996 đã tiến hành khảo sát dịch chiết ethanol của Chỉ thực (Aurantii Fructus Immaturus, Citrus aurantium L.) thu thập tại Trung Quốc để đánh giá hoạt tính chống khối u [1]. Các nhà khoa học đã sử dụng mô hình bệnh bạch cầu chuột P388 in vivo và phát hiện dịch chiết có hoạt tính thông qua các xét nghiệm sinh học cả in vivo lẫn in vitro [1]. Sau đó, dịch chiết được phân tách thành phân đoạn tan trong petroleum ether và phân đoạn tan trong ethyl acetate [1]. Quá trình phân đoạn được thực hiện dựa trên chỉ số ức chế tăng trưởng tế bào đối với tế bào bệnh bạch cầu chuột L1210 để cô lập các hợp chất hoạt tính [1]. Các hợp chất này được tinh sạch bằng sắc ký cột silica gel và sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC [1]. Kết quả đã phân lập được 5 hợp chất gồm auraptene, marmin, tangeretin, nobiretin và 5-[(6',7'-dihydroxy-3',7'-dimethyl-2-octenyl)oxy]psoralen [1]. Trong đó, hợp chất 5-[(6',7'-dihydroxy-3',7'-dimethyl-2-octenyl)oxy]psoralen lần đầu tiên được phân lập từ loài thực vật này [1]. Cả 5 hợp chất phân lập được đều cho thấy tác dụng ức chế sự phát triển của các dòng tế bào L1210 và K562 trong điều kiện in vitro [1].

Một công trình nghiên cứu khác công bố năm 2024 đã đánh giá tiềm năng chống khối u của các loài nấm nội sinh từ cây xương rồng Lophocereus marginatus [2]. Nhóm nghiên cứu đã thu nhận dịch chiết ethyl acetate và hexane từ hai loài nấm nội sinh Metarhizium anisopliae và Aspergillus versicolor để kiểm tra hoạt tính trên tế bào u lympho chuột L5178Y-R và tế bào đơn nhân máu ngoại vi của người thông qua kỹ thuật đo màu khử MTT [2]. Kết quả cho thấy dịch chiết ethyl acetate của M. anisopliae và A. versicolor có giá trị nồng độ ức chế một nửa IC50 lần lượt là 9,168 +- 1,21 microgam/ml và 13,51 +- 1,62 microgam/ml, cùng chỉ số chọn lọc đều lớn hơn 30 [2]. Thử nghiệm in vivo trên chuột BALB/c cho thấy liều dung nạp tối đa là 100 mg/kg của dịch chiết ethyl acetate không gây ra độc tính cho gan [2]. Khi đánh giá trên mô hình u lympho L5178Y-R, chuột được điều trị bằng dịch chiết A. versicolor có thời gian sống tăng thêm đạt 17 ngày [2]. Đồng thời, dịch chiết này kìm hãm không làm tăng thể tích khối u trong vòng 10 ngày so với các nhóm đối chứng không điều trị, nhóm dùng dung môi và nhóm dùng dịch chiết M. anisopliae vốn có thời gian sống tối đa chỉ 10 ngày [2].

Bên cạnh đó, một nghiên cứu công bố năm 2022 đã tiến hành phân tích hóa thực vật và đánh giá độc tính tế bào của cây ngải Artemisia brevifolia Wall. ex DC [3]. Thử nghiệm in vitro sử dụng phương pháp MTT để đánh giá độc tính tế bào trên nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau bao gồm HepG2, A2780, THP-1, MCF-7, HT-29 và DU-145 [3]. Tế bào được nuôi cấy trong môi trường RPMI-1640 hoàn chỉnh ở tủ ấm 37 độ C với 5% CO2, sau đó bổ sung dịch chiết A. brevifolia ở nồng độ cuối cùng là 20 microgam/ml [3]. Nghiên cứu sử dụng cisplatin, 5-fluorouracil, vincristine và doxorubicin ở nồng độ 4 mg/ml làm nhóm đối chứng dương [3]. Sau 72 giờ ủ, các dịch chiết thể hiện hoạt tính ức chế lớn hơn 50% tiếp tục được sàng lọc ở các nồng độ thấp hơn gồm 10, 5, 2,5 và 1,25 microgam/ml để tính toán giá trị IC50 [3]. Đồng thời, độc tính trên tế bào lympho phân lập từ máu của người tình nguyện khỏe mạnh bằng dung dịch Histopaque-1077 cũng được đánh giá bằng cách ủ 20 microgam/ml dịch chiết trong 24 giờ [3].

Khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới viên thuốc điều trị

Nhìn vào các nghiên cứu trên, độc giả có thể nhận thấy một sự thật rõ ràng: Các dữ liệu khoa học thực tế đang nghiên cứu trên thảo dược và nấm chứ không hề có dữ liệu nào về thạch sùng. Ngay cả với những hợp chất thực vật hay vi nấm có kết quả khả quan trên đĩa nuôi cấy hoặc trên chuột thí nghiệm, con đường để trở thành một loại thuốc điều trị ung thư ở người vẫn còn khoảng cách rất xa vời vôi cùng.

Từ một kết quả ức chế tế bào lympho chuột L5178Y-R [2] hay dòng tế bào bạch cầu L1210 [1], các nhà khoa học phải mất hàng chục năm nghiên cứu về dược động học, tính an toàn trên nhiều loài linh trưởng và thử nghiệm lâm sàng qua ba giai đoạn trên hàng nghìn bệnh nhân. Đa số các phân tử có hoạt tính mạnh trong ống nghiệm đều bị loại bỏ ở giai đoạn sau do không đạt hiệu quả trên cơ thể sống hoặc gây ra độc tính nguy hiểm vượt quá lợi ích điều trị. Vì vậy, việc suy diễn một sinh vật dân gian như thạch sùng có thể chữa bệnh ung thư chỉ qua những lời đồn thổi là hoàn toàn thiếu cơ sở và phản khoa học.

Hiểu lầm tai hại: Nuốt thạch sùng sống để tiêu khối u

Một trong những hiểu lầm phổ biến và nguy hiểm nhất hiện nay là việc tin rằng nuốt thạch sùng sống hoặc uống rượu ngâm thạch sùng nguyên con sẽ giữ được "nguyên vẹn hoạt chất quý". Nhiều bệnh nhân truyền tai nhau kinh nghiệm nuốt nguyên con thạch sùng còn sống mỗi ngày với niềm tin mù quáng rằng dịch cơ thể của chúng sẽ tấn công tế bào ác tính trong dạ dày hay phổi.

Đây là hành vi tiềm ẩn rủi ro y tế cực kỳ nghiêm trọng. Thạch sùng sống trong môi trường tự nhiên, bò trên tường nhà, kẽ hở ẩm thấp và săn bắt các loại côn trùng mang mầm bệnh. Khi ăn sống hoặc ngâm rượu thô sơ, người bệnh có nguy cơ cao bị nhiễm các loại ký sinh trùng đường ruột, ấu trùng giun sán và đặc biệt là vi khuẩn Salmonella gây nhiễm trùng huyết, viêm ruột cấp tính. Đối với người mắc bệnh ung thư vốn có hệ miễn dịch đã suy giảm do hóa trị hoặc xạ trị, việc nhiễm khuẩn từ thạch sùng sống có thể dẫn đến sốc nhiễm trùng và đe dọa tính mạng nhanh hơn cả sự tiến triển của khối u.

Những ai cần tuyệt đối thận trọng trước các bài thuốc đồn đại?

Bệnh nhân đang tiếp nhận điều trị ung thư chính quy là nhóm đối tượng đầu tiên cần tuyệt đối tránh xa các bài thuốc truyền miệng từ thạch sùng. Khi cơ thể đang tiếp nhận hóa chất hoặc xạ trị, việc tự ý bổ sung các dịch chiết động vật không rõ thành phần có thể gây tương tác thuốc nghiêm trọng, làm giảm hiệu lực của phác đồ điều trị hoặc làm tăng độc tính trên tủy xương.

Người có tiền sử suy giảm chức năng gan, suy thận cũng cần cẩn trọng tối đa. Các chất đạm lạ, độc tố chưa phân hủy từ xác thạch sùng khi đưa vào cơ thể sẽ trở thành gánh nặng chuyển hóa cực lớn cho gan và thận, dễ thúc đẩy suy gan cấp hoặc viêm thận tiến triển. Ngoài ra, phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ tuyệt đối không được tiếp xúc hay sử dụng các chế phẩm tự chế từ thạch sùng vì nguy cơ ngộ độc và dị ứng phản vệ rất cao.

Lời khuyên thực tế cho người bệnh và gia đình

Trước những căn bệnh hiểm nghèo, tâm lý "có bệnh thì vái tứ phương" là điều rất dễ hiểu. Tuy nhiên, sự tỉnh táo và tiếp cận dựa trên khoa học chính là yếu tố sống còn giúp bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của người bệnh.

Người bệnh không nên tự ý tìm kiếm, chế biến hay sử dụng thạch sùng dưới bất kỳ hình thức nào từ nuốt sống, ngâm rượu cho đến tán bột khô. Thay vào đó, mọi băn khoăn về dinh dưỡng hay các phương pháp hỗ trợ sức khỏe cần được thảo luận thẳng thắn với bác sĩ chuyên khoa ung bướu đang trực tiếp điều trị. Việc duy trì một chế độ ăn uống cân đối, đủ chất, vận động nhẹ nhàng theo thể trạng và tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ y khoa hiện đại đã được chứng minh là con đường an toàn và hiệu quả nhất để kiểm soát bệnh tật.

Tóm lại, những lời đồn thổi về khả năng ức chế khối u của dịch chiết thạch sùng hiện hoàn toàn không có bất kỳ bằng chứng khoa học nào chứng minh tính hiệu quả và an toàn. Việc tin vào các phương pháp dân gian chưa kiểm chứng không chỉ khiến người bệnh đối mặt với nguy cơ nhiễm trùng, ngộ độc mà còn đánh mất thời gian vàng điều trị quý giá. Hãy luôn trao đổi cùng bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng bất kỳ sản phẩm hay phương pháp truyền miệng nào để bảo vệ sức khỏe của bản thân một cách khoa học nhất.