Mâm xôi dại từ lâu đã xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian cũng như thức uống thanh nhiệt hằng ngày. Nhiều người thường mặc định cây cỏ tự nhiên thì lành tính, uống càng nhiều càng tốt mà không để ý tới liều lượng hay nguy cơ tiềm ẩn.
Liệu loài cây này có độc tính hay không và dùng mức nào mới đảm bảo an toàn cho cơ thể? Hiện nay, các thử nghiệm độc tính cấp trên mô hình động vật cho thấy chiết xuất mâm xôi dại có biên độ an toàn tương đối rộng, nhưng vẫn cần dùng chừng mực và chưa có đủ cơ sở lâm sàng để tự ý dùng liều cao kéo dài.
Thành phần và cơ chế tác động của mâm xôi dại
Các phân tích hóa thực vật đối với phần trên mặt đất của loài mâm xôi dại Rubus ulmifolius Schott ghi nhận sự hiện diện của nhiều nhóm hoạt chất sinh học tự nhiên [1]. Trong đó bao gồm flavonoid, alkaloid, tannin, saponin, glycoside, hợp chất phenolic, sterol, carbohydrate, terpenoid và protein [1]. Sự phối hợp của các nhóm chất này tạo nên những đặc tính sinh học đặc trưng của cây [1].
Tại gan, các hoạt chất từ rễ cây mâm xôi Rubus aleaefolius Poir. cho thấy khả năng chống lại tổn thương tế bào gan do độc chất CCl4 gây ra [2]. Phân đoạn chiết xuất ethyl acetate liều thấp giúp làm giảm các men gan AST và ALT trong huyết thanh [2]. Đồng thời, chiết xuất này còn ngăn chặn sự hình thành chất chỉ thị oxy hóa MDA và NO, đồng thời gia tăng hoạt lực của enzym chống oxy hóa SOD trong mô gan [2].
Bên cạnh đó, nhóm alkaloid toàn phần chiết xuất từ mâm xôi Rubus alceaefolius còn tác động tới các enzym chuyển hóa thuốc tại gan [3]. Khi thử nghiệm trên chuột bị tổn thương gan, các alkaloid này cho thấy khả năng ức chế biểu hiện gen của CYP2E1 và CYP3A1, hai loại enzym quan trọng thuộc hệ thống cytochrome P450 chịu trách nhiệm chuyển hóa nhiều hoạt chất nội sinh và dược phẩm [3]. Ngoài ra, alkaloid của cây còn hỗ trợ ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào gan, giúp bảo vệ cấu trúc vi mô của mô gan khi bị kích ứng bởi độc chất [4].
Kết quả thử nghiệm độc tính cấp tính
Thử nghiệm độc tính cấp tính là bước ban đầu quan trọng nhằm xác định giới hạn liều an toàn trước khi suy luận sang cơ thể người [1]. Năm 2017, một nghiên cứu trên mô hình chuột đã đánh giá độc tính cấp của dịch chiết thô (Ru.Cr) và phân đoạn (Ru.F) từ phần trên mặt đất của cây mâm xôi dại Rubus ulmifolius Schott qua đường uống [1].
Trong thử nghiệm này, các cá thể chuột được cho uống dịch chiết với liều tăng dần lên tới liều tối đa là 6000 mg/kg thể trọng [1]. Kết quả theo dõi cho thấy không ghi nhận trường hợp chuột nào bị tử vong ở mức liều tối đa 6000 mg/kg [1]. Nghiên cứu đưa ra kết luận chiết xuất thô và phân đoạn của cây an toàn ở đường uống lên tới ngưỡng 6000 mg/kg thể trọng chuột, phản ánh một biên độ an toàn rất rộng [1]. Nhờ biên độ an toàn cao này, các mức liều thấp hơn như 150 mg/kg và 300 mg/kg đường uống đã được chọn để kiểm chứng hiệu quả hạ sốt thực nghiệm trên chuột bị gây sốt bằng men bia [1].
Dữ liệu về độc tính bán trường diễn và liều dùng rễ, lá khô
Hiện nay, các tài liệu nghiên cứu trực tiếp về độc tính bán trường diễn (dùng liều lặp lại kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng để tìm tổn thương nội tạng) trên các loài mâm xôi dại vẫn còn rất hạn chế. Các bằng chứng thực nghiệm hiện có mới chỉ ghi nhận việc dùng các liều phân đoạn trong thời gian ngắn [2].
Cụ thể, trong một nghiên cứu năm 2010 trên mô hình chuột bị tổn thương gan do CCl4, các phân đoạn và hoạt chất chiết từ rễ cây mâm xôi Rubus aleaefolius Poir. đã được cho uống liên tục trong 7 ngày [2]. Các mức liều thử nghiệm bao gồm: cao chiết cồn thô 35 mg/kg; phân đoạn ethyl acetate hoặc n-butanol liều cao và thấp (35 mg/kg và 4,6 mg/kg; hoặc 35 mg/kg và 5,8 mg/kg); cắn chiết sau phân đoạn dùng 35 mg/kg; cùng hoạt chất chính dùng 3,5 mg/kg [2]. Ở các liều lượng này trong 7 ngày, chuột không ghi nhận phản ứng nhiễm độc mà ngược lại còn cải thiện tổn thương mô học gan [2].
Từ rễ của loài mâm xôi này, các nhà khoa học đã phân lập được 6 hợp chất chính: beta-sitosterol, 1beta-hydroxyeuscaphic acid, oleanolic acid, myrianthic acid, euscaphic acid và tomentic acid [2]. Trong đó, hoạt chất chính 1beta-hydroxyeuscaphic acid thể hiện hoạt tính sinh học mạnh nhất trong việc bảo vệ gan [2]. Tuy vậy, nghiên cứu này chỉ tiến hành trên chuột trong 7 ngày, chưa phải là nghiên cứu độc tính bán trường diễn dài ngày và cũng không đưa ra số gam quy đổi cho rễ hoặc lá khô nguyên bản trên người [2].
Đối với lá và rễ khô tự nhiên, y văn và các nghiên cứu hiện hành chưa có con số chính xác về mức gam sử dụng tối đa hàng ngày cho người tiêu dùng. Việc thiếu dữ liệu bán trường diễn quy chuẩn đòi hỏi người dùng không nên lạm dụng dài ngày [1, 2].
Bằng chứng bảo vệ gan từ các hợp chất alkaloid
Một nghiên cứu thực nghiệm năm 2010 thực hiện trên 60 con chuột cống trắng dòng SD bị gây tổn thương gan cấp tính bằng cách tiêm màng bụng CCl4 đã đánh giá tác động của alkaloid toàn phần từ cây Rubus alceaefolius [4]. Đàn chuột được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm: nhóm bình thường, nhóm mô hình bệnh, nhóm can thiệp bằng alkaloid mâm xôi dại và nhóm dùng thuốc đối chứng bifendate [4].
Qua kỹ thuật nhuộm TUNEL và quan sát cấu trúc siêu vi bằng kính hiển vi điện tử truyền qua, các nhà nghiên cứu nhận thấy mức độ tổn thương gan cũng như tỷ lệ tế bào gan chết theo chương trình ở nhóm dùng alkaloid mâm xôi dại giảm đi rõ rệt so với nhóm mô hình [4]. Tác dụng bảo vệ này cho thấy tiềm năng của alkaloid trong việc ngăn chặn hoại tử mô gan [4].
Tiếp tục nghiên cứu tác động của nhóm chất này, một thử nghiệm năm 2009 cũng trên 60 chuột cống SD chia làm 6 nhóm (10 con mỗi nhóm) gồm: nhóm chứng trắng, nhóm mô hình, nhóm dùng bifendate và 3 nhóm dùng alkaloid mâm xôi Rubus alceaefolius Poiron ở các mức liều thấp, trung bình và cao [3]. Kết quả chỉ ra rằng nhóm dùng liều cao và liều trung bình làm giảm mạnh cả men gan ALT và AST trong huyết thanh (P < 0,01), trong khi nhóm liều thấp chỉ làm giảm rõ rệt men ALT (P < 0,01) [3].
Đồng thời, cả 3 mức liều alkaloid đều làm giảm tổn thương mô học gan và ức chế sự biểu hiện mRNA của CYP2E1 và CYP3A1 trong mô gan (P < 0,01 hoặc P < 0,05) [3]. Điều này vừa cho thấy lợi ích hỗ trợ gan nhưng cũng là một cảnh báo về tương tác thuốc khi enzym chuyển hóa bị ức chế [3].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng mâm xôi dại
Hiểu lầm phổ biến nhất là xem mâm xôi dại tuyệt đối không có độc tính nên có thể sắc nước uống thay nước lọc quanh năm. Dù thử nghiệm cấp tính ghi nhận biên độ an toàn trên động vật lên đến 6000 mg/kg [1], điều này không đồng nghĩa với việc uống liều lượng lớn trong thời gian dài trên người là hoàn toàn vô hại. Độc tính tích lũy hoặc gánh nặng đào thải qua cơ quan nội tạng vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện.
Hiểu lầm thứ hai là đánh đồng tác dụng của các hoạt chất chiết xuất trong phòng thí nghiệm với việc đun nấu cây cỏ tại nhà. Các nghiên cứu hiện có chủ yếu sử dụng dạng chiết xuất cồn, phân đoạn ethyl acetate hoặc alkaloid tinh chế trên động vật [2, 4, 6]. Nước sắc từ cành lá, rễ khô thô sơ chứa hàm lượng hoạt chất không đồng nhất, lẫn tạp chất và có thể biến đổi tùy thuộc vào thổ nhưỡng cũng như cách sao chế. Vì vậy, người dân không thể dùng nước sắc rễ hay lá mâm xôi để thay thế các loại thuốc điều trị bệnh gan theo chỉ định y khoa [2, 4].
Nhóm đối tượng cần thận trọng
Dù các kết quả thử nghiệm trên chuột cho thấy tiềm năng hỗ trợ gan tốt [2, 4, 6], những đối tượng đặc thù cần đặc biệt thận trọng khi tiếp cận dược liệu này.
Do nghiên cứu năm 2009 chỉ ra rằng alkaloid của cây có khả năng ức chế biểu hiện gen enzym CYP3A1 và CYP2E1 ở chuột [3] (tương đương với các enzym CYP chuyển hóa thuốc quan trọng ở người), người đang điều trị các bệnh mãn tính bằng thuốc tân dược cần hết sức lưu ý. Việc ức chế enzym gan có thể làm thay đổi nồng độ các thuốc dùng chung trong máu, dẫn đến giảm hiệu quả điều trị hoặc tăng nguy cơ ngộ độc thuốc [3].
Bên cạnh đó, hiện tại hoàn toàn chưa có nghiên cứu an toàn nào về mâm xôi dại trên phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Mọi dữ liệu hiện có mới chỉ dừng lại trên mô hình động vật thí nghiệm [1, 2, 4, 6]. Do đó, các đối tượng này không nên tự ý dùng các loại nước sắc đặc từ rễ hoặc lá mâm xôi dại. Người có tiền sử suy giảm chức năng gan, thận mạn tính cũng cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi sử dụng.
Cách áp dụng thực tế và lời khuyên cân bằng
Vì các tài liệu khoa học hiện hành chưa đưa ra khuyến cáo liều dùng cụ thể tính theo gram rễ khô hay lá khô cho con người [1, 2], nguyên tắc hàng đầu trong đời sống là chỉ nên sử dụng ở mức độ vừa phải. Nếu có thói quen hãm lá hoặc đun nước rễ cây mâm xôi dại để giải nhiệt, người dùng chỉ nên coi đây là thức uống thưởng thức thỉnh thoảng, không dùng liên tục nhiều tuần mà không có khoảng nghỉ.
Khi thu hái hoặc chọn mua rễ và lá mâm xôi khô, cần đảm bảo nguồn gốc dược liệu sạch sẽ, không bị nấm mốc hay nhiễm chất bảo quản thực vật. Cách chế biến thông thường là rửa sạch bụi bẩn, phơi hoặc sao khô rồi hãm với nước sôi loãng, không nên sắc quá đặc để hạn chế hấp thu lượng tannin quá lớn gây kích ứng đường tiêu hóa [1].
Tóm lại, mâm xôi dại là một loại cây dân dã có phổ an toàn cấp tính khá cao trên động vật thực nghiệm [1] và sở hữu các hoạt chất bảo vệ gan tiềm năng [2, 4]. Tuy nhiên, do còn thiếu các nghiên cứu độc tính dài hạn và dữ liệu lâm sàng trên người, người dân cần giữ cái nhìn cân bằng, sử dụng với lượng chừng mực và luôn chủ động hỏi ý kiến bác sĩ khi đang có bệnh nền hoặc sử dụng thuốc điều trị [3].

