Nỗi lo dùng thuốc trị bệnh khi mang thai

Nhiều phụ nữ mắc bệnh viêm mạn tính lo lắng khi phát hiện mang thai trong lúc đang dùng thuốc điều trị. Một trong những loại thuốc gây băn khoăn nhiều nhất là colchicine, hoạt chất vốn có nguồn gốc từ cây tỏi độc [1]. Vì đặc tính ức chế phân chia tế bào, thuốc này từng khiến cả giới y khoa lẫn người bệnh e ngại về nguy cơ dị tật bẩm sinh [1, 6].

Tuy nhiên, các dữ liệu theo dõi lâm sàng thực tế hiện nay cho thấy colchicine không làm tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh nghiêm trọng ở thai nhi [1, 2, 3]. Phụ nữ mắc bệnh sốt Địa Trung Hải gia đình (FMF) duy trì dùng thuốc trong thai kỳ có kết quả thai sản an toàn, không có lý do để ngừng điều trị chỉ vì mang thai [3, 7].

Cơ chế tác động của hoạt chất từ cây tỏi độc

Colchicine là thuốc chống viêm có nguồn gốc từ cây tỏi độc, được sử dụng rộng rãi để kiểm soát nhiều bệnh lý viêm nhiễm mạn tính [3, 6]. Thuốc can thiệp vào cấu trúc vi ống và tạo ra tác động chống phân bào [1]. Ngoài ra, hoạt chất này nhắm vào thể viêm NLRP3, từ đó ức chế sự kích hoạt của các chất gây viêm hạ nguồn như interleukin-1 (IL-1) và interleukin-6 (IL-6) [1].

Chính vì cơ chế phá vỡ vi ống và can thiệp vào quá trình phân chia tế bào, về mặt lý thuyết, giới khoa học từng suy đoán thuốc có thể ảnh hưởng đến buồng trứng hoặc làm rối loạn nhiễm sắc thể của phôi thai [1, 6]. Vào những năm 1970, các bác sĩ từng khuyên người bệnh dừng colchicine 3 tháng trước khi thụ thai và trong suốt thai kỳ [2]. Tuy nhiên, các lo ngại lý thuyết này đã không được ghi nhận trên các dữ liệu theo dõi lâm sàng thực tế [2].

Bằng chứng lâm sàng từ các nghiên cứu thực tế

Để làm rõ độ an toàn thực tế của colchicine, nhiều nhóm nghiên cứu đã theo dõi phụ nữ mang thai sử dụng thuốc, đặc biệt ở bệnh nhân sốt Địa Trung Hải gia đình.

Nghiên cứu quan sát thuần tập tiến cứu tại Israel theo dõi thai kỳ từ năm 1994 đến 2006 ghi nhận 238 phụ nữ phơi nhiễm colchicine (97,0% dùng thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ) so với 964 thai phụ không tiếp xúc với chất gây dị tật [3]. Chỉ định dùng thuốc gồm sốt Địa Trung Hải gia đình (87,3%), bệnh Behcet (7,5%) hoặc lý do khác (5,2%) [3]. Kết quả cho thấy tỷ lệ dị tật bẩm sinh lớn ở nhóm dùng colchicine là 4,5% (10/221 ca), không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với mức 3,9% (35/908 ca) ở nhóm đối chứng [3]. Không ghi nhận bất thường di truyền tế bào nào trong nhóm dùng colchicine [3]. Tuy nhiên, nhóm dùng thuốc có tuổi thai khi sinh trung vị sớm hơn (39 tuần so với 40 tuần), tỷ lệ sinh non cao hơn (15,0% so với 5,9%) và cân nặng sơ sinh trung vị thấp hơn (3000g so với 3300g) [3]. Nhóm tác giả kết luận colchicine không phải chất gây quái thai lớn ở người và dường như không gây độc tính di truyền tế bào [1, 2].

Một nghiên cứu công bố năm 2010 đã so sánh kết quả của 179 thai kỳ ở phụ nữ mắc FMF có dùng colchicine với 197 thai kỳ ở phụ nữ FMF không dùng thuốc và 312 thai kỳ ở phụ nữ khỏe mạnh [4]. Các nhà khoa học nhận thấy không có sự khác biệt giữa 3 nhóm về tỷ lệ sảy thai sớm, sảy thai muộn hoặc dị tật bẩm sinh [4]. Việc dùng thuốc không làm tăng tỷ lệ thai chết lưu, không rút ngắn thời gian mang thai và không làm giảm cân nặng sơ sinh khi so sánh giữa các bệnh nhân FMF [2].

Năm 2018, một phân tích gộp hệ thống từ 4 nghiên cứu lâm sàng kết luận việc dùng colchicine suốt thai kỳ không liên quan đến việc gia tăng nguy cơ sảy thai hay dị tật thai nhi lớn [5]. Tỷ lệ sảy thai ở nhóm dùng thuốc thậm chí còn thấp hơn đáng kể so với nhóm không dùng [5]. Ở phụ nữ mắc FMF dùng thuốc liên tục, không có sự khác biệt về cân nặng sơ sinh hay tuổi thai so với nhóm bệnh nhân không dùng thuốc [5].

Một phân tích gộp khác thực hiện trên 25 nghiên cứu phục vụ khuyến cáo của EULAR/PReS ghi nhận tỷ số nguy cơ (RR) đối với sảy thai hoặc mất thai khi dùng colchicine ở bệnh nhân FMF là 0,87 (khoảng tin cậy 95%: 0,67–1,12) [6]. Tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở nhóm phơi nhiễm dao động từ 0,6% đến 4,0%, tương đương với nhóm bệnh nhân FMF không dùng thuốc [6]. Dữ liệu cũng cho thấy thuốc không gây ảnh hưởng xấu rõ rệt lên khả năng sinh sản của cả nam và nữ [6].

Lợi ích kiểm soát bệnh và giới hạn của bằng chứng

Việc kiểm soát cơn viêm mạn tính trong thai kỳ đem lại lợi ích quan trọng cho bệnh nhân FMF [4]. Khi bệnh được kiểm soát ổn định, nguy cơ biến chứng thai kỳ giảm đi đáng kể [3, 7]. Bằng chứng lâm sàng dài hạn cho thấy dùng colchicine liên tục liều lên tới 2-3 mg mỗi ngày rất hiếm khi gặp tác dụng phụ muộn nguy hiểm [1].

Dù vậy, các nghiên cứu quan sát hiện có vẫn tồn tại một số giới hạn phương pháp luận [7]. Trong các nghiên cứu tiến cứu thông thường, các ca sảy thai rất sớm có thể bị bỏ sót do thai phụ chỉ đăng ký khi đã biết mang thai thay vì trước khi thụ thai [7]. Ngược lại, các nghiên cứu hồi cứu dễ gặp sai số công bố do chỉ các ca mang thai bất thường mới được báo cáo [7]. Yếu tố bệnh nền của mẹ, mức độ hoạt động của bệnh trong thai kỳ và các thuốc dùng kèm cũng có thể gây nhiễu kết quả nghiên cứu nhưng chưa được hiệu chỉnh triệt để trong các báo cáo không đối chứng [7].

Những hiểu lầm thường gặp về colchicine

Hiểu lầm phổ biến nhất là phụ nữ dùng colchicine bắt buộc phải chọc ối để kiểm tra dị tật nhiễm sắc thể [1, 7]. Lo ngại này bắt nguồn từ một báo cáo cũ của tác giả Rabinovitch ghi nhận 4 trẻ mắc hội chứng Down trên 2.000 ca sinh của bệnh nhân FMF (tỷ lệ 1:500, cao gấp đôi dự kiến), dù chưa rõ do thuốc hay nguyên nhân khác [2]. Tuy nhiên, các nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn sau này khẳng định colchicine không gây độc di truyền tế bào [1, 2]. Do đó, các chuyên gia khẳng định không có chỉ định chọc ối chỉ vì thai phụ dùng colchicine [1, 7].

Một hiểu lầm khác là thai phụ mắc FMF nên tự ý dừng thuốc khi thấy que thử hai vạch để "bảo vệ thai nhi" [1, 3]. Thực tế, việc dừng colchicine có thể khiến các đợt bùng phát sốt và viêm tái phát dữ dội [3, 7]. Phân tích cho thấy tỷ lệ sảy thai ở thai phụ tiếp tục dùng thuốc thấp hơn so với người bỏ thuốc [5]. Do đó, việc tự ý ngưng colchicine mà không có chỉ định chuyên môn là hành động tiềm ẩn nhiều rủi ro [5].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Dữ liệu an toàn thai kỳ nêu trên tập trung chủ yếu vào bệnh nhân mắc sốt Địa Trung Hải gia đình (FMF) và bệnh Behcet [2, 8]. Khi xét trên các nhóm đối tượng rộng hơn ngoài bệnh nhân FMF, việc dùng colchicine có liên quan đến việc giảm tuổi thai và cân nặng sơ sinh so với phụ nữ khỏe mạnh không dùng thuốc [5].

Tờ hướng dẫn sử dụng của các công ty dược và sách giáo khoa dược lý thường đưa ra cảnh báo thận trọng đối với phụ nữ cho con bú [2]. Hiện dữ liệu về việc dùng thuốc trong giai đoạn nuôi con bằng sữa mẹ vẫn còn rất hạn chế, chỉ mới có một nghiên cứu ghi nhận không có khác biệt về sự phát triển giữa trẻ bú mẹ có phơi nhiễm và không phơi nhiễm [6]. Thai phụ có bệnh lý tim mạch, bệnh gan hoặc đang phối hợp nhiều loại thuốc chuyển hóa khác cần được theo dõi sát sao vì các dữ liệu quan sát chưa thể loại trừ hoàn toàn các yếu tố gây nhiễu [4, 6].

Hướng dẫn áp dụng thực tế cho thai phụ

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mắc các bệnh tự viêm cần thảo luận kế hoạch mang thai với bác sĩ chuyên khoa thấp khớp hoặc sản khoa ngay từ giai đoạn tiền thụ thai [7]. Việc lên kế hoạch sớm giúp bác sĩ đánh giá mức độ ổn định của bệnh nền và điều chỉnh phác đồ phù hợp [7].

Bệnh nhân không nên tự ý điều chỉnh liều lượng hoặc ngừng thuốc khi phát hiện có thai [5]. Liều dùng colchicine điều trị duy trì đã được chứng minh an toàn trong các dữ liệu theo dõi bệnh FMF dài hạn có thể lên tới 2-3 mg mỗi ngày tùy trường hợp cụ thể [1]. Thai phụ cần tuân thủ lịch khám thai định kỳ, siêu âm sàng lọc hình thái học thai nhi theo chuẩn y khoa mà không cần thực hiện thêm các thủ thuật xâm lấn không cần thiết [1, 7]. Nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào trong thai kỳ, bệnh nhân cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị để được tư vấn chính xác.

Tóm lại, colchicine có nguồn gốc từ tỏi độc không làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh hay sảy thai ở thai phụ mắc sốt Địa Trung Hải gia đình [1, 3]. Việc duy trì thuốc theo đơn của bác sĩ giúp kiểm soát bệnh ổn định và bảo đảm an toàn cho thai kỳ [3, 7]. Người bệnh không nên tự ý bỏ thuốc và cần phối hợp chặt chẽ với nhân viên y tế trong suốt quá trình mang thai [7].