Thói quen dân gian và rủi ro tiềm ẩn
Nhiều người khi bị trầy xước hoặc đứt tay thường tìm hái các loại lá quanh nhà để giã nát rồi đắp trực tiếp lên miệng vết thương. Cây thuốc thượng (hay còn gọi là cây con khỉ, xuân hoa) là một trong những loại thảo mộc hay được truyền miệng với công dụng cầm máu và giúp vết rách da mau lành. Thói quen này xuất phát từ kinh nghiệm dân gian cho rằng các loại dịch thảo mộc tươi luôn mát, lành tính và có khả năng sát khuẩn tự nhiên.
Tuy nhiên, việc bôi dịch tươi của cây thuốc thượng trực tiếp lên vết thương hở là một quan niệm chưa có cơ sở khoa học xác thực và tiềm ẩn rủi ro nhiễm khuẩn nặng nề. Dịch chiết tươi chứa nhiều tạp chất, dị nguyên và vi khuẩn chưa qua xử lý, có thể khiến bề mặt vết rách bị bội nhiễm và kích ứng mô liên kết. Thay vì giúp vết thương mau khép miệng, hành động này có thể biến một tổn thương nông thành ổ loét sâu kéo dài.
Bôi dịch cây tươi: Đúng hay sai?
Câu trả lời dứt khoát là sai. Hiện tại không có bất kỳ bằng chứng thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh dịch ép tươi từ lá cây thuốc thượng bôi trực tiếp có tác dụng thúc đẩy quá trình liền da trên người. Trái lại, các chất lạ chưa tinh chế khi đưa vào môi trường mô mềm đang rách toác sẽ cản trở quá trình dọn dẹp tế bào chết tự nhiên của cơ thể.
Việc tự ý đắp dịch lá cây tươi không giúp tăng tốc độ tái tạo biểu mô. Khi da bị tổn thương, hàng rào bảo vệ sinh học đã bị phá vỡ hoàn toàn, khiến mô dưới da tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố ngoại lai. Bôi các dung dịch chưa được kiểm chứng độ kích ứng và vô trùng sẽ chỉ làm tăng nguy cơ phù nề, viêm da tiếp xúc dị ứng và làm chậm tiến độ phục hồi mô bình thường.
Cơ chế sinh học của quá trình lành thương
Khi da bị rách, cơ thể lập tức khởi động chuỗi đáp ứng sinh học gồm bốn giai đoạn: cầm máu, viêm dọn dẹp, tăng sinh mô hạt và tái tạo biểu bì. Mục tiêu then chốt trong xử lý vết thương là thiết lập một môi trường che chắn bán thấm phù hợp nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của các tác nhân gây hại từ bên ngoài, đồng thời giữ ẩm sinh lý [1]. Các tế bào sừng (keratinocyte) cần một nền mô sạch và không bị kích ứng liên tục để di chuyển và khép kín bờ vết thương [1].
Nếu bôi một hoạt chất có tính kích ứng mạnh hoặc chứa độc tính tế bào lên nền thương tổn, phản ứng viêm sẽ bị khuếch đại quá mức. Tình trạng tăng sinh bạch cầu và phù nề kéo dài sẽ ức chế quá trình co vết thương và biểu mô hóa [2]. Ngoài ra, áp lực oxy hóa hoặc nồng độ các chất hòa tan vượt ngưỡng sinh lý có thể làm mất cân bằng nội môi tại chỗ, dẫn tới phá vỡ mạng lưới nguyên bào sợi thay vì kích thích tổng hợp collagen [3].
Khoa học thực nghiệm nói gì về các liệu pháp bôi ngoài da?
Để hiểu rõ phản ứng của mô da tổn thương trước các hợp chất tự nhiên và hóa dược bôi tại chỗ, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thử nghiệm đối chứng nghiêm ngặt.
Năm 2005, một nghiên cứu trên chuột về sửa chữa hàng rào bảo vệ da đã so sánh màng cao su kín hoàn toàn (latex) và màng hydrocolloid bán thấm thoát hơi ẩm trên vết thương toàn bộ chiều dày da [1]. Kết quả cho thấy việc dùng màng phủ kín toàn bộ thời gian điều trị ban đầu làm giảm tốc độ lành thương trong tuần đầu, nhưng lại thúc đẩy lành thương ở tuần thứ hai [1]. Đáng chú ý, màng cao su kín hoàn toàn gây kích ứng da rõ rệt, trong khi màng bán thấm hydrocolloid kích thích tế bào sừng tăng sinh và di chuyển để tái biểu mô hóa ở tuần thứ hai mà không gây kích ứng [1]. Thử nghiệm này chỉ ra rằng việc che chắn vết thương cần kiểm soát độ thông thoáng sinh lý, tránh tình trạng ủ kín hoàn toàn gây viêm mô [1].
Năm 2014, một nghiên cứu đánh giá tinh dầu thảo dược Lippia sidoides (EOLS) - vốn dùng trong dân gian để sát trùng da - trên vết thương chuột cống [2]. Tinh dầu được bào chế thành mỡ bôi nồng độ 6% và 12% để bôi hàng ngày lên vết thương thực nghiệm [2]. Kết quả ghi nhận việc bôi tại chỗ gây ra phản ứng viêm da ở nhiều mức độ khác nhau: làm dày da, hình thành phù nề và ban đỏ [2]. Động vật dùng tinh dầu bị phù nề dữ dội và tiết dịch kéo dài đến ngày thứ 5; mô học cho thấy sự thâm nhiễm mạnh mẽ của tế bào viêm [2]. Dù đến ngày 14 và 21 độ co vết thương không khác biệt nhiều so với đối chứng, nhưng nồng độ tinh dầu cao gây kích ứng rất rõ ràng và không kích hoạt biểu hiện các chất trung gian có lợi như COX-2 hay VEGF ở nhóm 12% [2].
Năm 2020, nghiên cứu về nồng độ muối kẽm hòa tan đối với vết thương bỏng nhiệt một phần chiều dày da trên chuột cống đã phát hiện một hiện tượng cảnh báo [3]. Dung dịch kẽm clorua được dùng ở các mức nồng độ 0,01% hoặc 5,0% (thể tích 0,1 ml) [3]. Các nhà khoa học phát hiện hàm lượng kẽm hòa tan thấp tới mức 10,5 microgam/cm² da đã đủ để gây kích ứng và phủ nhận, làm đảo ngược quá trình lành vết thương bỏng so với chuột không điều trị [3]. Cơ chế được xác định là do căng thẳng oxy hóa từ ion hòa tan làm mất cân bằng nội môi của da, cho thấy việc áp nồng độ hoạt chất không chuẩn xác lên da rách có thể chuyển từ hỗ trợ sang phá hủy mô [3].
Năm 2018, một nghiên cứu tiền lâm sàng trên chuột Wistar albino sử dụng gel sát khuẩn chlorhexidine trên nền chất mang poloxamer [4]. Dạng gel tạo độ ẩm thích hợp và giữ hoạt chất cố định tại chỗ tổn thương, tránh ngấm vào máu [4]. Kết quả cho thấy gel chlorhexidine-poloxamer thúc đẩy quá trình lành thương rạch và cắt bỏ có nhiễm khuẩn mà hoàn toàn không gây kích ứng trên mô da lành [4]. Đồng thời gel này dễ dàng được rửa trôi bằng nước, không để lại cặn bám gây viêm dị vật [4].
Năm 2010, một thử nghiệm trên chuột không lông đánh giá bài thuốc thảo dược đa thành phần PADMA 28 trên nền da bị thoái hóa do bôi corticosteroid mạnh (Temovate) kết hợp dung môi DMSO [5]. Các vết thương trợt nông được tạo ra sau thời gian tiền xử lý [5]. Kết quả ghi nhận da được can thiệp bằng chế phẩm thảo mộc thúc đẩy đóng vết thương nhanh hơn đáng kể so với nhóm chứng [5]. Quá trình này đi kèm với tăng sinh collagen và ức chế các enzym phân hủy chất nền MMP, đồng thời không gây tăng sản biểu bì bất thường và không có bất kỳ dấu hiệu kích ứng da nào [5].
Năm 2013, nghiên cứu trên chuột cống về dịch chiết methanol và phân đoạn flavonoid từ cây Sphaeranthus amaranthoides cho thấy việc bôi các phân đoạn này thúc đẩy mô hạt xuất hiện và đẩy nhanh thời gian đóng vết thương xuống 10 ngày (đạt độ lành khoảng 90%) [6]. Ở nhóm dùng phân đoạn flavonoid, hàm lượng collagen đạt 0,96 ± 0,02 mg/g mô và nồng độ hydroxyproline đạt 1,1 ± 0,65 mg/g mô [6]. Ngoài ra, kem chứa dịch chiết cồn của cây Sphaeranthus indicus bôi 1 lần/ngày trong 15 ngày trên 6 mô hình vết thương cắt bỏ ở chuột lang cũng làm tăng tỷ lệ co vết thương và thời gian biểu mô hóa tương đương với thuốc mỡ kháng sinh neomycin [6].
Năm 2011, một thử nghiệm lâm sàng mù đôi trên 30 người trưởng thành có hai vết thương nông sau phẫu thuật cắt dày sừng tiết bã ở thân mình hoặc bụng nhằm so sánh thuốc mỡ kháng sinh Polysporin (Poly/Bac) và sáp dưỡng ẩm gốc petrolatum (Aquaphor Healing Ointment - AHO) bôi 2 lần/ngày [7]. Đánh giá lâm sàng tại ngày 7, 14 và 28 cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm về mức độ đỏ da, phù nề, bong vảy, tạo màng biểu mô [7]. Tuy nhiên, nhóm dùng thuốc mỡ kháng sinh ghi nhận mức độ nóng rát gia tăng đáng kể ở tuần thứ nhất và có 1 trường hợp bị viêm da tiếp xúc dị ứng [7]. Nghiên cứu chỉ ra rằng các chất kháng khuẩn bôi ngoài không nhất thiết phải có mặt để vết thương nông lành lặn mà còn có thể mang lại nguy cơ kích ứng tiếp xúc không mong muốn [7].
Năm 2015, nghiên cứu đánh giá độ an toàn in vitro thông qua thử nghiệm ly giải hồng cầu (RBC) trên chế phẩm maltodextrin từ tấm gạo vỡ và sản phẩm Multidex [8]. Kết quả cho thấy maltodextrin tấm gạo không làm tan màng tế bào hồng cầu, chứng minh độ an toàn tại chỗ cho da người [8]. Tuy nhiên, chất bảo quản có trong sản phẩm Multidex thương mại dù an toàn cho da ngoài nhưng lại làm giảm khả năng sống của dòng tế bào nhạy cảm NIH 3T3 trong ống nghiệm [8].
Lợi ích giả định và giới hạn nghiêm ngặt của bằng chứng
Từ các dữ liệu khoa học, có thể thấy một số dịch chiết thực vật khi được phân tách bài bản và bào chế thành dạng kem đạt chuẩn có khả năng hỗ trợ tăng sinh collagen và kiểm soát các enzym phá hủy mô da [5], [6]. Tuy nhiên, toàn bộ các nghiên cứu về thảo dược nêu trên chỉ được thực hiện trên động vật thí nghiệm như chuột cống hoặc chuột lang [2], [5], [6].
Chưa hề có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng hay dữ liệu tiền lâm sàng nào đánh giá tác dụng của việc bôi trực tiếp dịch tươi cây thuốc thượng lên vết thương hở. Việc dịch cây có chứa các hợp chất kháng khuẩn trong ống nghiệm không đồng nghĩa với việc nó an toàn khi tiếp xúc với tế bào mô liên kết đang hở miệng trên người sống. Bằng chứng thực tế cho thấy ngay cả các loại tinh dầu thực vật quen thuộc khi dùng đậm đặc cũng trực tiếp kích hoạt viêm da, gây phù nề và tiết dịch kéo dài nhiều ngày [2].
Nguy cơ viêm da tiếp xúc và bội nhiễm vi khuẩn
Bôi trực tiếp dịch lá cây tươi tạo ra rủi ro kép đối với sinh lý làn da. Rủi ro thứ nhất là viêm da tiếp xúc kích ứng hoặc dị ứng. Tương tự như phản ứng phụ gây nóng rát và viêm da tiếp xúc từng được ghi nhận khi lạm dụng các hợp chất bôi ngoài da [7], nhựa và các phân tử lạ trong lá thuốc thượng tươi có thể kích thích hệ miễn dịch tại chỗ giải phóng ồ ạt các chất gây viêm. Điều này dẫn tới triệu chứng đỏ rực, sưng tấy, ngứa ngáy và làm trầm trọng thêm cảm giác bỏng rát [2], [7].
Rủi ro thứ hai là nhiễm trùng cơ hội. Bề mặt lá cây tự nhiên chứa hàng triệu bào tử nấm mốc, vi khuẩn hoại sinh trong đất và bụi bẩn. Khi nghiền nát lá bằng các dụng cụ gia đình không vô khuẩn, hỗn hợp dịch lá trở thành nguồn lây nhiễm vi sinh vật trực diện vào sâu trong lớp hạ bì. Thay vì được làm sạch bằng các hoạt chất sát khuẩn chuyên dụng có thể rửa trôi dễ dàng bằng nước [4], nền thương tổn bị bọc kín bởi cặn bã thực vật, tạo môi trường yếm khí nguy hiểm.
Những đối tượng cần tuyệt đối thận trọng
Những người có vết thương hở sâu, vết thương mất da diện rộng, vết cắn của động vật hoặc vết rách do vật sắc nhọn rỉ sét tuyệt đối không được tự ý đắp dịch lá cây thuốc thượng. Nền thương tổn sâu đòi hỏi sự vô khuẩn y tế tuyệt đối; dị vật từ thực vật có thể dẫn tới u hạt hoại tử và nhiễm trùng huyết.
Bệnh nhân mắc đái tháo đường, suy giảm miễn dịch hoặc người lớn tuổi có tốc độ tưới máu mô ngoại vi kém là nhóm đối tượng có rủi ro rất cao. Ở những người này, phản ứng viêm da tiếp xúc kéo dài do dịch thực vật [2] có thể khiến ổ thương tổn hoại tử lan rộng không thể cứu vãn. Trẻ nhỏ với lớp biểu bì mỏng manh cũng rất dễ bị ngộ độc hoặc viêm da tiếp xúc nặng nếu tiếp xúc với các hóa chất chưa rõ danh tính trong nhựa cây tươi.
Hướng dẫn chăm sóc vết rách da đúng cách tại nhà
Khi gặp phải vết trầy xước hoặc vết cắt da thông thường, người dân cần tuân thủ các bước chăm sóc cơ bản đã được y học kiểm chứng:
- Bước 1: Rửa sạch và loại bỏ dị vật: Rửa vết thương dưới vòi nước sạch chảy liên tục hoặc dùng dung dịch nước muối sinh lý 0,9% để đẩy hết cát bẩn. Nếu cần sát khuẩn bề mặt, chỉ nên dùng các dung dịch y tế chuyên dụng được phép dùng trên vết thương hở, tránh các chất gây xót mô tế bào.
- Bước 2: Dưỡng ẩm bảo vệ bề mặt: Thử nghiệm lâm sàng cho thấy chỉ cần dùng các loại sáp làm dịu không chứa kháng sinh như petrolatum bôi nhẹ lên vết thương nông cũng đem lại hiệu quả biểu mô hóa tương đương với thuốc mỡ kháng sinh mà lại ít gây nóng rát hay viêm da tiếp xúc [7].
- Bước 3: Băng bó thoáng khí: Sử dụng các loại băng gạc bán thấm thoát hơi ẩm thay vì bọc kín mít bằng màng không thấm khí để thúc đẩy quá trình tăng sinh tế bào sừng và giảm kích ứng biểu bì [1].
- Bước 4: Theo dõi biến chứng: Cần thay băng định kỳ hàng ngày. Nếu vết thương xuất hiện dấu hiệu sưng đau tăng dần, tấy đỏ lan rộng, chảy mủ hôi hoặc kèm theo sốt, bệnh nhân phải đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được nhân viên y tế thăm khám và xử trí.
Lời khuyên cho cộng đồng
Tâm lý chuộng thảo mộc tự nhiên là điều dễ hiểu, nhưng áp dụng kinh nghiệm dân gian mù quáng lên các vết rách hở da có thể dẫn tới những tổn thương không thể hồi phục. Dịch ép cây thuốc thượng tươi chưa từng được chứng minh giúp lành mô trên người và mang nguy cơ gây viêm da tiếp xúc rất cao. Hãy ưu tiên các phương pháp xử lý vết thương sạch sẽ, giữ ẩm chuẩn y khoa và hỏi ý kiến bác sĩ khi gặp phải các tổn thương rách da phức tạp.


