Nhầm lẫn phổ biến về "kháng sinh tự nhiên"
Kim ngân rừng (hay kim ngân hoa, Lonicera japonica) từ lâu được xem là dược liệu giải nhiệt, tiêu độc phổ biến trong dân gian [2, 7]. Nhiều người truyền tai nhau uống nước sắc kim ngân để trị viêm họng, viêm xoang thay cho kháng sinh tân dược nhằm tránh tác dụng phụ và kháng thuốc. Tuy nhiên, quan niệm này hoàn toàn sai lầm.
Dù các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ghi nhận hoạt tính kháng khuẩn rộng của chiết xuất kim ngân, dược liệu này không thể thay thế kháng sinh tổng hợp trong điều trị nhiễm trùng. Việc tự ý bỏ thuốc kê đơn để dùng thảo dược tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng lan rộng và diễn tiến nặng hơn.
Nghiên cứu thực nghiệm: Phổ kháng khuẩn rộng trên đĩa nghiệm
Các bộ phận của cây kim ngân chứa nhiều nhóm hoạt chất sinh học giá trị. Thân cây chứa axit hữu cơ, tinh dầu, flavonoid, triterpene và saponin triterpene, mang lại tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn, chống oxy hóa [1]. Nụ hoa và hoa nở chứa lượng lớn flavonoid, iridoid, triterpenoid saponin và axit hữu cơ [2].
Về phổ kháng khuẩn, đánh giá năm 2009 về tinh dầu hoa và chiết xuất cồn từ lá cho thấy hoạt tính ức chế vi khuẩn rõ rệt trong điều kiện thí nghiệm [3]. Nghiên cứu thử nghiệm trên các chủng:
- Listeria monocytogenes ATCC 19116 (đường kính vòng ức chế 20,3 mm; MIC 62,5 mcg/ml đối với tinh dầu hoa; 16,2 mm và MIC 125 mcg/ml đối với chiết xuất lá) [3].
- Bacillus subtilis ATCC 6633 (vòng ức chế 17,8 mm; MIC 62,5 mcg/ml với tinh dầu; 15,4 mm và MIC 125 mcg/ml với chiết xuất) [3].
- Bacillus cereus SCK 111 (vòng ức chế 15,2 mm; MIC 250 mcg/ml với tinh dầu; 14,0 mm và MIC 250 mcg/ml với chiết xuất) [3].
- Staphylococcus aureus ATCC 6538 và KCTC 1916 (vòng ức chế 16,3 mm và 14,1 mm; MIC tương ứng 125 và 250 mcg/ml với tinh dầu; 15,0 mm và 14,1 mm với chiết xuất) [3].
- Salmonella enteritidis KCTC 12021 (vòng ức chế 15,3 mm; MIC 125 mcg/ml với tinh dầu; 14,1 mm và MIC 125 mcg/ml với chiết xuất) [3].
- Salmonella typhimurium KCTC 2515 (vòng ức chế 14,0 mm; MIC 250 mcg/ml với tinh dầu; 14,2 mm và MIC 250 mcg/ml với chiết xuất) [3].
- Enterobacter aerogenes KCTC 2190 (vòng ức chế 12,4 mm; MIC 500 mcg/ml với tinh dầu; 12,2 mm và MIC 500 mcg/ml với chiết xuất) [3].
- Escherichia coli ATCC 8739 (vòng ức chế 12,1 mm; MIC 500 mcg/ml với tinh dầu; 10,3 mm và MIC 500 mcg/ml với chiết xuất) [3].
Ngoài ra, phương pháp khuếch tán thạch với nụ hoa cho thấy đường kính vòng ức chế đạt 6,3 mm với Bacillus cereus và 7,2 mm với Staphylococcus aureus [3]. Đánh giá hệ thống năm 2015 chỉ ra các thành phần như chiết xuất nước, chiết xuất cồn, polysaccharide và tinh dầu của hoa ức chế cả vi khuẩn Gram âm lẫn Gram dương [4]. Các chủng nhạy cảm gồm Streptococcus haemolyticus, Staphylococcus aureus, Salmonella Typhi, Klebsiella pneumoniae, Salmonella paratyphi, Vibrio cholerae, mầm bệnh khoang miệng, Diplococcus intracellularis, Streptococcus pneumoniae, Mycobacterium tuberculosis và Pseudomonas aeruginosa [4]. Chiết xuất nước ức chế mạnh Escherichia coli và Staphylococcus aureus, nhưng yếu hơn trên Pseudomonas aeruginosa và Shigella flexneri [4].
Cơ chế tác động và khả năng chống virus
Về cơ chế diệt khuẩn, hoạt chất chlorogenic acid trong kim ngân ức chế sự phát triển của vi khuẩn Meningococcus, Salmonella typhi, và Escherichia coli [5]. Tác dụng này liên quan đến việc ức chế không cạnh tranh enzyme arylamine-N-acetyltransferase (NAT) của vi khuẩn [5]. Đo độ dẫn điện, hoạt tính alkaline phosphatase, độ hấp thụ và độ thấm của thuốc nhuộm huỳnh quang kỵ nước NPN trên màng và vách tế bào cho thấy chlorogenic acid làm tăng tính thấm vách tế bào Escherichia coli, khiến chất điện giải và enzyme rò rỉ ra ngoài, dẫn tới chết tế bào [5]. Tác dụng kháng khuẩn của kim ngân đối với vi khuẩn Gram âm nhìn chung hơi kém hơn so với vi khuẩn Gram dương [5].
Bên cạnh vi khuẩn, tannin trong kim ngân gồm 3,5-di-O-caffeoylquinic acid và methyl 3,5-di-O-caffeoylquinic acid có tác dụng ức chế mạnh men phiên mã ngược HIV-1 RT và HDNAP-alpha với tỷ lệ IC50 lần lượt là 2,0 và 2,2 [3]. Hợp chất 3,4-di-O-caffeoylquinic acid và methyl 3,4-di-O-caffeoylquinic acid ức chế HDNAP-alpha mạnh hơn HIV-1 RT [3]. Đồng thời, 13 dẫn xuất caffeoylquinic acid khác, caffeic acid và este methyl của caffeic acid phân lập từ kim ngân cũng thể hiện hoạt tính chống các virus đường hô hấp [3].
Vì sao không thể thay thế kháng sinh tân dược?
Mặc dù có hoạt tính diệt khuẩn trên đĩa petri, kim ngân gặp rào cản lớn về sinh khả dụng khi dùng đường uống [6]. Axit phenolic là nhóm hoạt chất chính có tác dụng kháng khuẩn, chống oxy hóa, kháng virus mạnh, nhưng độ hấp thu qua đường tiêu hóa rất thấp [6]. Điều này làm giảm đáng kể hiệu quả lâm sàng của các chế phẩm uống [6]. Trong thí nghiệm in vitro, in situ và dược động học động vật, việc kết hợp chito-oligosaccharide (COS) liều 25 mg/kg mới cải thiện được độ hấp thu và sinh khả dụng của axit phenolic [6]. Nếu chỉ đun sắc hoặc uống thảo dược thông thường, nồng độ hoạt chất trong máu khó đạt ngưỡng diệt khuẩn như kháng sinh kê đơn.
Thêm vào đó, hầu hết dữ liệu kháng khuẩn của kim ngân bắt nguồn từ ống nghiệm hoặc mô hình động vật [4, 5]. Nghiên cứu năm 2015 về nước sắc kim ngân cho thấy thuốc làm giảm phù ngón chân chuột do tiêm lòng trắng trứng, giảm sốt ở chuột cống và giảm phù tai chuột nhắt do xylene [7]. Mặc dù kết luận nước sắc có tác dụng hỗ trợ nhiễm trùng đường hô hấp trên ở trẻ em dựa trên mô hình động vật thí nghiệm, dữ liệu này chưa đủ giá trị lâm sàng để thay thế phác đồ kháng sinh [7].
Nghiên cứu năm 2021 dùng sắc ký lỏng xác định các hợp chất neochlorogenic acid, chlorogenic acid, cryptochlorogenic acid cùng isochlorogenic acid A, B, C có tác dụng hiệp đồng hạ sốt và kháng nội độc tố [8]. Tuy nhiên, tác dụng hạ sốt hay kháng độc tố không đồng nghĩa với việc tiêu diệt triệt để ổ nhiễm khuẩn trong máu hay mô cơ quan.
Nguy cơ khi tự ý thay thế thuốc
Kháng sinh tân dược được định chuẩn chính xác về liều lượng, nồng độ đỉnh trong huyết thanh và thời gian bán thải để kiểm soát nhiễm trùng kịp thời. Ngược lại, chiết xuất thảo dược biến thiên lớn theo nguồn gốc cây trồng, phương pháp chiết và khả năng hấp thu của cơ thể [1, 5].
Nghiên cứu dược động học năm 2022 trên chuột chỉ ra rằng diện tích dưới đường cong (AUC) của 8 hợp chất chính trong dịch chiết cồn kim ngân tăng rõ rệt ở nhóm chuột bị tổn thương gan do carbon tetrachloride so với chuột bình thường [2]. Sự hấp thu vào máu tăng, tốc độ thanh thải chậm lại khiến sinh khả dụng thay đổi mạnh khi cơ thể có bệnh lý nền [2]. Việc tự ý dùng kim ngân thay kháng sinh có thể dẫn đến thất bại điều trị, tạo điều kiện cho vi khuẩn bùng phát hoặc gây tổn thương thêm các cơ quan chuyển hóa.
Ai nên thận trọng khi dùng kim ngân?
- Người mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính (viêm phổi, nhiễm trùng huyết, viêm mô tế bào): Tuyệt đối không tự ý dùng thảo dược thay thuốc đặc hiệu.
- Người có bệnh lý về gan: Khi chức năng gan suy giảm, tốc độ thanh thải hoạt chất của kim ngân bị chậm lại, làm tích tụ nồng độ thuốc trong máu bất thường [2].
- Trẻ em: Dù có nghiên cứu cơ chế kháng nhiễm trùng hô hấp bằng nước sắc trên chuột cống và chuột nhắt, dữ liệu an toàn và liều lượng chuẩn trên trẻ em vẫn chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng [7]. Phụ huynh cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nhi.
- Người đang dùng thuốc điều trị khác: Các hợp chất trong kim ngân có thể tương tác chuyển hóa, cần hỏi ý kiến chuyên môn trước khi kết hợp.
Áp dụng đúng cách trong thực tế
Kim ngân rừng chỉ nên dùng với vai trò hỗ trợ giải nhiệt hoặc hỗ trợ cải thiện triệu chứng nhẹ theo hướng dẫn y học cổ truyền, không dùng như thuốc kháng sinh đơn độc [2, 7]. Có thể sử dụng dạng trà nụ hoa sấy khô hãm nước sôi uống trong ngày với lượng vừa phải. Khi có biểu hiện sốt cao, ho có đờm đặc, đau rát họng nặng hay nghi ngờ nhiễm khuẩn, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được thăm khám và chỉ định kháng sinh chuẩn xác.