Nhiều người khi phát hiện mắc sỏi túi mật thường mang tâm lý lo lắng, ngại phẫu thuật và tìm đến các bài thuốc truyền miệng. Trong đó, thòng bong (hải kim sa) được đồn thổi là vị thuốc thần kỳ giúp "đánh tan" hoàn toàn sỏi mật mà không cần can thiệp y khoa.

Tuy nhiên, tuyên bố này hoàn toàn sai sự thật. Y văn thế giới và các bằng chứng chuyển hóa hiện tại không có dữ liệu chứng minh thòng bong làm tan biến được sỏi túi mật. Việc tự ý sử dụng có thể dẫn đến chậm trễ điều trị y tế và gây ra các biến chứng nguy hiểm.

Hiểu lầm phổ biến: Nhầm lẫn sỏi thận với sỏi túi mật

Thòng bong trong dân gian thường được dùng với mục đích lợi tiểu, trị sỏi đường tiết niệu. Do nhầm lẫn giữa hệ tiết niệu và hệ tiêu hóa - gan mật, nhiều người lầm tưởng uống thảo dược này cũng sẽ "bào mòn" hoặc tống sỏi mật ra ngoài qua đường tiểu.

Về mặt giải phẫu, túi mật nối với đường tiêu hóa qua ống mật chủ, hoàn toàn tách biệt với thận và bàng quang. Sỏi túi mật hình thành từ sự mất cân bằng các thành phần sinh hóa trong dịch mật, không thể bị đẩy ra ngoài theo dòng nước tiểu như sỏi thận.

Hơn nữa, các khối sỏi túi mật khi đã hình thành thường có cấu trúc rắn chắc. Cơ chế hình thành sỏi liên quan mật thiết đến sự bài tiết cholesterol và muối mật tại gan chứ không đơn thuần chỉ cần tăng tiết dịch là giải quyết được.

Sỏi túi mật hình thành như thế nào theo khoa học?

Dịch mật bình thường chứa cholesterol ở trạng thái hòa tan nhờ sự kết hợp với axit mật và phospholipid. Khi tỷ lệ các thành phần này bị rối loạn, dịch mật trở nên bão hòa cholesterol, dẫn đến kết tinh và tạo sỏi [1].

Một nghiên cứu năm 1976 trên 8 người béo phì không có sỏi mật đã chỉ ra cơ chế tạo sỏi do thừa cholesterol bài tiết qua gan [1]. Nghiên cứu đo động học bài tiết lipid mật khi truyền dịch đẳng calo không chứa cholesterol liên tục qua hai giai đoạn 12 giờ [1]. Kết quả cho thấy dịch mật túi mật của 7/8 người luôn trong tình trạng bão hòa cholesterol [1].

Lượng cholesterol bài tiết qua gan trung bình ở nhóm này là 0,232 mM/giờ, cao gấp ba lần người bình thường và gấp đôi người có sỏi mật [1]. Dù lượng phospholipid và axit mật bài tiết đạt lần lượt 0,73 và 1,88 mM/giờ (cao hơn người bình thường), chúng vẫn không đủ bù đắp để hòa tan lượng cholesterol dư thừa [1]. Kích thước bể axit mật bình thường (trung bình 2,72 g) và tổng hợp axit mật hàng ngày tăng (0,86 g axit cholic), kết luận sỏi cholesterol liên quan đến béo phì là do gan tăng tiết cholesterol dẫn đến kết tủa [1].

Bằng chứng về sự rối loạn axit mật và bài tiết lipid

Sự hình thành dịch mật sinh sỏi không chỉ phụ thuộc vào cholesterol mà còn liên quan mật thiết đến sự thiếu hụt hoặc rối loạn điều hòa axit mật [2].

Một nghiên cứu năm 1972 trên 43 bệnh nhân gồm phụ nữ da đỏ châu Mỹ và các nhóm đối chứng đã đánh giá dịch tiết lipid gan bằng kỹ thuật pha loãng chất đánh dấu qua ống thông tá tràng [2]. Ở 17 phụ nữ da đỏ có sỏi mật, lượng axit mật bài tiết hàng giờ thấp hơn đáng kể so với 7 nam giới da đỏ và 12 phụ nữ da trắng không sỏi mật [2]. Đồng thời, lượng cholesterol bài tiết qua mật ở nhóm phụ nữ này cũng tăng đáng kể, cho thấy dịch mật sinh sỏi là hậu quả của việc vừa giảm bài tiết axit mật vừa tăng tiết cholesterol [2]. Các tác giả chỉ ra rằng nguyên nhân bắt nguồn từ khiếm khuyết trong điều hòa tổng hợp axit mật và tăng lượng cholesterol sẵn có tại gan [2].

Khác với sỏi cholesterol, cơ chế bài tiết lipid ở người có sỏi sắc tố mật lại có đặc tính khác biệt [3]. Một nghiên cứu năm 1978 trên 3 bệnh nhân đã cắt túi mật vì sỏi sắc tố mật so sánh với nhóm sỏi cholesterol [3]. Kết quả cho thấy người bệnh sỏi sắc tố bài tiết nhiều cholesterol và phospholipid hơn ở mức bài tiết muối mật cao, nhưng tiến tới các mức đó từ từ hơn nhóm sỏi cholesterol [3]. Do đó, người có sỏi sắc tố tạo ra dịch mật chưa bão hòa cholesterol ở mức bài tiết muối mật thấp hơn, ít nguy cơ tạo dịch mật quá bão hòa khi nhịn ăn qua đêm [3]. Điều này chứng minh mỗi loại sỏi có cơ chế bệnh học phức tạp riêng, không thể dùng chung một loại cây cỏ để giải quyết [3].

Ngoài ra, bệnh lý ở đường ruột cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần dịch mật [4]. Nghiên cứu năm 1988 trên 29 bệnh nhân sau cắt đoạn hồi tràng cho thấy 7 người có bài tiết axit mật bình thường (dưới 10 mg/kg/ngày) và 22 người kém hấp thu axit mật ở các mức độ khác nhau, siêu âm bụng không ai có sỏi mật [4]. Mức cholesterol LDL giảm ở nhóm kém hấp thu axit mật và tương quan thuận với tỷ lệ phần trăm mol của cholesterol mật, trong khi cholesterol mật tương quan nghịch với bài tiết axit mật qua phân [4]. Việc mất axit mật qua phân làm giảm bài tiết cholesterol mật, giảm chỉ số sinh sỏi và làm dịch mật chưa bão hòa cholesterol [4].

Bài tiết axit mật qua phân và thay đổi sau can thiệp

Những thay đổi trong chu trình gan ruột của axit mật phản ánh rõ nét tình trạng rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân sỏi túi mật [5].

Nghiên cứu năm 1999 so sánh hồ sơ axit mật trong phân của 10 bệnh nhân sỏi mật và 10 người đối chứng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao [5]. Tổng lượng axit mật bài tiết qua phân ở nhóm sỏi mật tăng rõ rệt so với đối chứng, đạt 692,7 mg/ngày (dao động 302,5-846,2) so với 165,7 mg/ngày (dao động 138,7-221,3) [5]. Lượng axit mật tự do thứ cấp bài tiết cũng cao hơn đáng kể với 562,9 mg/ngày so với 99,9 mg/ngày [5].

Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ phần trăm axit lithocholic (LCA) tăng lên 55,4% so với 24,6% ở nhóm chứng, axit glycodeoxycholic (GDCA) tăng lên 29,4% so với 2,8% [5]. Ngược lại, tỷ lệ axit ursodeoxycholic giảm mạnh từ 8,6% xuống 1,5%, axit chenodeoxycholic giảm từ 20,0% xuống 8,9% [5]. Rối loạn bài tiết và thay đổi thành phần axit mật này là mắt xích quan trọng trong sinh bệnh học sỏi mật [5].

Đáng chú ý, việc cắt bỏ túi mật không đồng nghĩa với việc gan ngừng sản xuất dịch mật sinh sỏi [6]. Nghiên cứu năm 1974 phân tích 63 mẫu mật gan lúc đói từ 8 bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật qua ống dẫn lưu chữ T trong 7-20 ngày [6]. Kết quả cho thấy 18/63 mẫu sinh sỏi theo tiêu chuẩn Admirand và Small, trong khi 35/63 mẫu sinh sỏi theo tiêu chuẩn Hegardt và Dam [6]. Thành phần mật thay đổi theo từng ngày ở mỗi người và phụ thuộc vào tốc độ bài tiết axit mật, khẳng định các yếu tố ngoài túi mật chi phối tính sinh sỏi của dịch mật [6].

Các thử nghiệm thực nghiệm về kiểm soát chuyển hóa dịch mật

Một số nghiên cứu tiền lâm sàng đã tìm hiểu tác động của chế độ ăn và gen lên sự hình thành sỏi, song hoàn toàn không có sự hiện diện của thòng bong [7, 8].

Nghiên cứu năm 2009 trên chuột bị loại bỏ gen protein gắn axit béo ở gan (L-Fabp) khi cho ăn chế độ ăn sinh sỏi trong 2 tuần đã xuất hiện tình trạng tăng cholesterol máu và tăng tiết cholesterol VLDL từ gan [7]. Có tới 75% số chuột biến đổi gen này phát triển sỏi mật thể rắn so với chỉ 6% ở chuột kiểu dại thông thường, với điểm số sỏi mật tăng lên 3,29 so với 0,62 [7]. Sự thay đổi chuyển hóa cholesterol tại gan và bài tiết lipid mật cùng với chuyển hóa axit mật trong chu trình gan ruột làm tăng nguy cơ sinh sỏi [7].

Nghiên cứu năm 1981 trên chuột hamster nuôi bằng chế độ ăn thiếu axit béo thiết yếu cho thấy chất xơ lignin và lactulose có tác dụng dự phòng sỏi cholesterol [8]. Nhóm đối chứng có tỷ lệ mắc sỏi rất cao là 21/24 con và dịch mật sinh sỏi với chỉ số 1,08 [8]. Nhóm ăn lignin có tỷ lệ sỏi giảm xuống 11/25 con, cải thiện độ bão hòa cholesterol và tăng đào thải axit mật qua phân [8]. Nhóm dùng lactulose giảm sỏi xuống 12/24 con, giảm cholesterol huyết thanh và tăng đào thải steroid trung tính [8]. Khi kết hợp cả lignin và lactulose, sỏi mật được ngăn ngừa hoàn toàn trên 22 con chuột thí nghiệm [8].

Như vậy, các can thiệp thực nghiệm có hiệu quả ghi nhận được đều đến từ việc điều chỉnh các chất xơ chuyên biệt hoặc cơ chế gen chuyển hóa, không có bất kỳ dữ liệu nào về dược liệu thòng bong [7, 8].

Hiểu lầm thường gặp và rủi ro khi dùng thòng bong tán sỏi

Hiểu lầm tai hại nhất là tin rằng uống nước sắc thòng bong đậm đặc sẽ làm sỏi vỡ vụn hoặc biến mất. Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào trên người chứng minh thòng bong có thể làm giảm kích thước hay làm tan sỏi túi mật.

Nguy hiểm hơn, việc cố tình uống các bài thuốc lợi mật không rõ liều lượng có thể kích thích túi mật co bóp mạnh. Nếu trong túi mật đang có sỏi kích thước nhỏ hoặc sỏi kẹt, các cơn co bóp này dễ đẩy sỏi di chuyển vào cổ túi mật hoặc rơi vào ống mật chủ. Hậu quả là gây tắc mật cấp tính, viêm đường mật, viêm túi mật cấp hoặc viêm tụy cấp nguy hiểm đến tính mạng.

Thêm vào đó, việc người bệnh tự ý dùng thảo dược thay thế chỉ định y khoa có thể khiến bệnh diễn tiến âm thầm. Đến khi xuất hiện biến chứng nhiễm trùng hoặc hoại tử túi mật thì việc can thiệp phẫu thuật cấp cứu sẽ phức tạp hơn rất nhiều.

Ai nên thận trọng?

Bệnh nhân đã được chẩn đoán có sỏi túi mật, đặc biệt là sỏi có kèm triệu chứng đau hạ sườn phải, sốt hoặc vàng da, tuyệt đối không được tự ý dùng thòng bong để điều trị.

Những người có tiền sử viêm túi mật, sỏi kẹt cổ túi mật, người cao tuổi có nhiều bệnh lý nền, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú cần hết sức cẩn trọng trước các bài thuốc dân gian chưa được kiểm chứng. Bất kỳ tác động nào làm thay đổi đột ngột chức năng đường mật ở các nhóm đối tượng này đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Nếu có bất thường về gan mật hoặc đường tiêu hóa, người bệnh cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa - gan mật trước khi sử dụng bất kỳ loại thảo dược hay thực phẩm chức năng nào.

Lời khuyên áp dụng thực tế và quản lý sỏi mật

Thay vì tìm kiếm các biện pháp "tán sỏi" truyền miệng không có cơ sở, người có sỏi túi mật hoặc muốn phòng ngừa cần tập trung vào chế độ sinh hoạt khoa học. Duy trì cân nặng hợp lý là yếu tố then chốt, bởi tình trạng thừa cân béo phì làm gan tăng tiết cholesterol vào dịch mật dẫn đến bão hòa và tạo sỏi [1].

Người bệnh nên xây dựng chế độ ăn cân đối, tăng cường chất xơ hòa tan từ rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt nhằm hỗ trợ chuyển hóa mỡ và đào thải chất béo. Tránh nhịn ăn kéo dài hoặc giảm cân quá nhanh, vì nhịn ăn làm giảm lưu thông dịch mật, tạo điều kiện cho cholesterol kết tinh [3].

Khám sức khỏe định kỳ và siêu âm ổ bụng là phương pháp tốt nhất để theo dõi kích thước cũng như số lượng sỏi. Khi sỏi chưa gây triệu chứng, bác sĩ thường chỉ định theo dõi định kỳ; khi sỏi gây đau tái phát hoặc viêm nhiễm, phẫu thuật nội soi cắt túi mật là giải pháp can thiệp chuẩn mực và an toàn hiện nay.

Tóm lại, thông tin uống cây thòng bong giúp làm tan hoàn toàn sỏi mật là không chính xác và thiếu bằng chứng khoa học. Người dân cần tỉnh táo trước các mẹo truyền miệng, tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa để bảo vệ sức khỏe hệ gan mật một cách an toàn và bền vững.