Cơn sốt tìm kiếm thảo dược thay thế iboga
Nhiều người tìm đến các phương pháp hỗ trợ cai nghiện tự nhiên thường truyền tai nhau rằng Voacanga africana là lựa chọn thay thế lành tính hơn cây iboga truyền thống (Tabernanthe iboga). Nguồn gốc của quan niệm này xuất phát từ việc Voacanga africana được sử dụng trong y học dân gian tại một số quốc gia châu Phi để chữa tiêu chảy, phù nề, hoặc co giật [1].
Tuy nhiên, tuyên bố cho rằng Voacanga africana an toàn hơn iboga truyền thống là nhận định hoàn toàn sai lầm. Cả hai loài thực vật này đều chứa các alkaloid thuộc nhóm cấu trúc iboga [1, 2]. Nhóm hoạt chất này có khả năng gây độc tính tim mạch và hệ thần kinh trung ương tương đương nhau [4, 6, 8].
Cấu trúc tương đồng và cơ chế tác động
Về mặt hóa thực vật, cả Voacanga africana và Tabernanthe iboga đều thuộc họ thực vật Apocynaceae [1, 2]. Điểm chung cốt lõi của các loài này là khả năng tổng hợp các alkaloid dạng monoterpenoid indole, được đặc trưng hóa học bởi hệ thống vòng hợp nhất isoquinuclidine-tetrahydroazepine [2].
Trong cây iboga truyền thống, ibogaine chiếm thành phần hoạt chất chính, khoảng 80% tổng lượng alkaloid trong chiết xuất vỏ rễ, bên cạnh ibogaline (15%) và ibogamine (tối đa 5%) [3]. Trong khi đó, Voacanga africana chứa hoạt chất chính là voacangine (khoảng 0,5% đến 0,8% trọng lượng vỏ rễ khô) cùng các dimer iboga-vobasinyl như voacamine và voacamidine chiếm khoảng 3,7% [1, 4].
Điều đáng chú ý là voacangine mang khung cấu trúc tương tự ibogaine và có thể chuyển đổi trực tiếp thành ibogaine thông qua các quy trình bán tổng hợp hoặc khử nhóm methoxycarbonyl [1, 2]. Khi đi vào cơ thể, nhóm alkaloid iboga liên kết với nhiều thụ thể thần kinh như thụ thể NMDA, thụ thể opioid mu và kappa, thụ thể sigma-2, cũng như tác động lên hệ thống dẫn truyền dopamine và serotonin [4]. Do sở hữu cùng khung phân tử hoạt tính, voacangine và ibogaine phát huy các tác động sinh học lẫn độc tính tương đồng lên cơ thể [1, 4].
Độc tính tim mạch: Nguy cơ đe dọa tính mạng
Nguy cơ nghiêm trọng nhất được ghi nhận ở nhóm alkaloid iboga là độc tính trên hệ tim mạch [4, 8]. Một tổng quan hệ thống năm 2022 thu thập các biến cố bất lợi ở người cho thấy các tác dụng phụ cấp tính (< 24 giờ) phổ biến nhất liên quan đến tim mạch là kéo dài khoảng QTc trên điện tâm đồ [5].
Khoảng QTc kéo dài là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới loạn nhịp thất nguy hiểm, có thể dẫn tới tử vong đột ngột [5]. Các biến cố tim mạch kéo dài (> 24 giờ) cũng được ghi nhận ở người dùng ibogaine [5]. Ngoài ra, ibogaine được chuyển hóa chủ yếu tại thành ruột và gan qua enzyme cytochrome P450 2D6 (CYP2D6) tạo thành chất chuyển hóa noribogaine [4, 6].
Noribogaine tồn tại trong cơ thể ở nồng độ có ý nghĩa lâm sàng trong nhiều ngày sau khi ibogaine đã được đào thải [4]. Tình trạng đa hình di truyền của gen CYP2D6 khiến khoảng 5% đến 10% dân số người da trắng bị mất hoàn toàn chức năng enzyme này, làm tăng vọt nguy cơ tích lũy thuốc và ngộ độc tim mạch cấp tính [3]. Do voacangine chia sẻ chung cấu trúc nền tảng và con đường chuyển hóa, việc sử dụng chế phẩm thô từ Voacanga africana cũng tiềm ẩn hiểm họa gây loạn nhịp tim tương đương [1, 4].
Nghiên cứu khoa học nói gì về độc tính thần kinh?
Bên cạnh nguy cơ tim mạch, các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật đã chỉ ra những tác động tiêu cực của các alkaloid này lên hệ thần kinh trung ương [3, 6, 7].
Một nghiên cứu công bố năm 2022 trên chuột nhắt di chuyển tự do đã đánh giá tác động của ibogaine và voacangine (đều dùng liều 30 mg/kg tiêm màng bụng) cùng dịch chiết loài chứa alkaloid iboga Tabernaemontana arborea trên điện não đồ (EEG) [6]. Kết quả phân tích phổ công suất EEG cho thấy ibogaine thúc đẩy sự gia tăng đáng kể công suất tương đối của sóng delta và giảm giá trị sóng alpha, biểu hiện trạng thái ức chế thần kinh trung ương [6]. Đáng chú ý, voacangine ở liều 30 mg/kg gây ra mô hình điện não đồ bị phẳng (EEG flattening) [6]. Nghiên cứu này cũng ghi nhận hiện tượng đột tử ở chuột khi kết hợp dịch chiết thực vật liều cao (100 mg/kg) với chất gây co giật pentylenetetrazole [6].
Về mặt tổn thương mô học thần kinh, một tổng quan năm 2016 dẫn chứng hiện tượng thoái hóa thần kinh xảy ra trên chuột cống khi sử dụng ibogaine, có thể do kích thích nhân trám dưới gây độc kích thích lên tế bào Purkinje ở tiểu não [4]. Tuy nhiên, các dấu hiệu thoái hóa thần kinh này không xuất hiện ở liều ibogaine dưới 25 mg/kg tiêm màng bụng trên chuột [4].
Dù một số dẫn xuất tổng hợp như 18-methoxycoronaridine (18-MC) được chứng minh trên động vật là làm giảm hội chứng cai morphin mà không gây độc tính thần kinh như ibogaine, các dạng chiết xuất tự nhiên thô từ Voacanga africana vẫn chưa loại bỏ được độc tính vốn có [7].
Bằng chứng lâm sàng và giới hạn hiện tại
Dù Voacanga africana đã được chiết xuất để phân lập nhiều alkaloid như voacamine, voacristine, coronaridine, tabernanthine phục vụ nghiên cứu diệt ký sinh trùng Onchocerca ochengi trong ống nghiệm, các dữ liệu an toàn trên người vẫn còn khoảng trống lớn [1].
Tổng quan năm 2022 về các biến cố bất lợi chỉ ra rằng phần lớn dữ liệu hiện có về alkaloid iboga bắt nguồn từ các báo cáo ca bệnh hoặc những can thiệp không có nhóm chứng, dẫn tới việc chưa thể xác lập mối quan hệ nhân quả tuyệt đối theo chuẩn thử nghiệm lâm sàng [5]. Các nghiên cứu này có tính không đồng nhất rất cao về nguồn sản phẩm thảo dược và liều lượng sử dụng [5]. Hiện nay, giới khoa học vẫn nhấn mạnh sự cần thiết của các thử nghiệm lâm sàng pha I nhằm mô tả chính xác hồ sơ an toàn của từng mức liều chuẩn hóa [5].
Hiểu lầm thường gặp về Voacanga africana
Nhiều người lầm tưởng rằng cây dùng trong y học cổ truyền thì không gây độc [1]. Dù một số vùng tại châu Phi dùng vỏ thân Voacanga africana phối hợp chữa một số bệnh, đây là kinh nghiệm dân gian chưa qua kiểm chứng an toàn lâm sàng [1].
Quan niệm thứ hai cho rằng Voacanga africana an toàn hơn cây iboga vì nồng độ ibogaine tự nhiên thấp hơn [3]. Thực tế, nồng độ voacangine trong vỏ rễ Voacanga africana đạt khoảng 0,5% đến 0,8%, cộng thêm các hợp chất dimer có thể phân cắt tạo ra lượng voacangine gấp đôi [1, 4]. Voacangine mang cấu trúc tương đồng và độc tính tiềm tàng trên tim mạch lẫn thần kinh không kém cạnh ibogaine [1, 3, 4].
Ai nên tuyệt đối thận trọng?
Người có tiền sử bệnh tim mạch, rối loạn nhịp tim, hội chứng QT kéo dài tuyệt đối không được tự ý tiếp xúc hay sử dụng các loại cây chứa alkaloid iboga [4, 8]. Độc tính gây kéo dài khoảng QTc có thể dẫn tới những biến cố tim mạch kịch phát đe dọa trực tiếp tính mạng [5].
Người đang sử dụng các loại thuốc chuyển hóa qua gan qua con đường cytochrome P450, đặc biệt là enzym CYP2D6, cũng đối mặt nguy cơ tương tác thuốc nguy hiểm [4, 6]. Ngoài ra, những người mang biến thể gen gây suy giảm chức năng CYP2D6 sẽ tích tụ nồng độ hoạt chất cao bất thường trong máu [3]. Bệnh nhân động kinh hoặc có vấn đề về dẫn truyền thần kinh cũng không được sử dụng do nguy cơ làm biến đổi bất thường hoạt động điện não [6]. Hiện tại chưa có dữ liệu an toàn trên phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và trẻ em đối với các chiết xuất này; do đó nhóm đối tượng này tuyệt đối không được dùng.
Nhận định và khuyến cáo thực tế
Các chuyên gia khuyến cáo người dân không tự ý mua, bào chế hoặc sử dụng rễ, lá hay chiết xuất thô của Voacanga africana dưới bất kỳ hình thức nào để tự chữa bệnh hay cai nghiện. Việc thiếu chuẩn hóa hàm lượng trong dược liệu tự nhiên rất dễ dẫn đến ngộ độc cấp tính [5].
Khi cần điều trị các rối loạn do sử dụng chất hoặc các bệnh lý mạn tính, người bệnh phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để được thăm khám và điều trị theo phác đồ khoa học đã được phê duyệt. Trước khi sử dụng bất kỳ thảo dược hỗ trợ nào, hãy luôn tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc dược sĩ chuyên môn để tránh các tương tác nguy hại.


