Nhiều người dân thường có thói quen sử dụng các loại cây cỏ thuộc chi ngải cứu để sắc uống nhằm thanh nhiệt, trị cảm sốt hoặc hỗ trợ bệnh gan theo kinh nghiệm truyền miệng. Trong đó, ngải nhật (tên khoa học là Artemisia japonica) là một cây thuốc được sử dụng tương tự như nhân trần trong y học cổ truyền [1]. Tuy nhiên, việc sắc uống dịch chiết toàn phần liều cao hoặc kéo dài liệu có gây nguy cơ âm thầm làm tổn thương chức năng gan, thận hay không là mối lo lớn của không ít bạn đọc.

Để trả lời thẳng thắn thắc mắc này: Hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu độc tính chuyên sâu dài hạn trên cơ thể người đối với loài ngải nhật (Artemisia japonica). Các bằng chứng tiền lâm sàng hiện có về độc tính cấp và bán trường diễn chủ yếu được thực hiện trên động vật thí nghiệm (chuột nhắt, chuột cống) khi cho uống dịch chiết nước của các loài cùng chi ngải (Artemisia). Dữ liệu này cho thấy dịch chiết ngải đường uống có ngưỡng an toàn tương đối cao, không gây tổn hại cấu trúc mô hay chức năng gan, thận ở liều thử nghiệm [1, 3].

Cơ chế tác động và mối liên hệ với gan thận

Khi các thảo dược thuộc chi ngải được đưa vào cơ thể qua đường tiêu hóa, các hợp chất sinh học và phân tử phân cực trong dịch chiết nước sẽ được hấp thu qua niêm mạc ruột. Sau đó, các chất này di chuyển theo tĩnh mạch cửa về gan để chuyển hóa trước khi các chất cặn bã được đào thải qua thận ra nước tiểu. Do hai cơ quan này gánh trách nhiệm chuyển hóa và bài tiết chính, chúng là nơi dễ chịu tổn thương nhiễm độc nhất nếu dịch chiết chứa độc tố tế bào.

Đối với cây ngải nhật (Artemisia japonica), một nghiên cứu công bố năm 2024 chỉ ra rằng dịch chiết cây này có khả năng làm giảm nhiệt độ trực tràng ở chuột cống bị sốt [1]. Cơ chế cho thấy dịch chiết làm giảm rõ rệt các cytokine gây viêm vùng dưới đồi như TNF-alpha, IL-6 và PGE2, đồng thời điều hòa men COX-2 và PEMT [1]. Nghiên cứu cũng ghi nhận hiệu quả lâm sàng của ngải nhật tương tự như ngải cứu sợi (Artemisia capillaris), nhưng số lượng báo cáo nghiên cứu dược lý về loài này còn rất hạn chế [1].

Về mặt chuyển hóa bảo vệ gan thận, các dữ liệu trên những cây cùng chi ngải cho thấy dịch chiết nước không làm cạn kiệt các enzym chống oxy hóa nội sinh và không gây hiện tượng peroxy hóa lipid màng tế bào [2]. Thậm chí ở liều dùng kiểm soát, dịch chiết cây ngải còn hỗ trợ ức chế phản ứng viêm toàn thân mà không phá vỡ cân bằng men gan hay chức năng lọc của cầu thận [1, 3].

Nghiên cứu thực nghiệm về độc tính cấp đường uống

Độc tính cấp phản ánh nguy cơ ngộ độc hoặc tử vong xuất hiện nhanh chóng chỉ sau một lần uống liều cực lớn. Một nghiên cứu công bố năm 2007 đã đánh giá toàn diện độ an toàn của dịch chiết nước từ loài ngải Artemisia afra trên động vật gặm nhấm, mô phỏng cách thức sắc thuốc truyền thống [3]. Trong thử nghiệm này, chuột nhắt được cho uống một liều đơn dịch chiết với dải liều rất rộng từ 2 đến 24 g/kg thể trọng [3].

Kết quả cho thấy ở đường uống, chỉ số liều gây chết một nửa số động vật thử nghiệm (LD50) của dịch chiết lên tới 8,96 g/kg thể trọng [3]. Các biểu hiện bất thường về hành vi và tỷ lệ tử vong sau khi uống liều đơn này không phụ thuộc vào liều lượng, chứng minh độc tính cấp qua đường miệng của dịch chiết ngải là rất thấp [3]. Để so sánh, nghiên cứu cũng tiêm màng bụng chuột liều 1,5 đến 5,5 g/kg dẫn tới LD50 là 2,45 g/kg và gây tử vong theo mức tăng liều [3]. Điều này cho thấy hàng rào tiêu hóa tự nhiên bảo vệ cơ thể rất tốt trước dịch chiết ngải [3].

Một công bố tổng quan năm 2022 cũng ghi nhận lá cây Artemisia afra khi thử nghiệm độc tính cấp đường uống trên các mô hình động vật đều cho giá trị LD50 vượt mức 5000 mg/kg thể trọng [4]. Động vật không xuất hiện các dấu hiệu ngộ độc thực thể nguy hiểm như chảy nước mắt, tăng tiểu tiện, yếu cơ hay co giật [4]. Thêm vào đó, nghiên cứu năm 2025 trên loài Artemisia roxburghiana theo hướng dẫn OECD 423 cho thấy liều uống duy nhất 2 g/kg thể trọng ở chuột nhắt trắng cũng xác lập LD50 lớn hơn 2 g/kg [2]. Suốt 14 ngày theo dõi, chuột không bị suy giảm trí nhớ, không có hành vi trầm cảm, lo âu và không có con nào tử vong [2].

Dữ liệu độc tính bán trường diễn và kiểm tra gan thận

Để đánh giá nguy cơ tiềm ẩn khi dùng kéo dài nhiều ngày hoặc nhiều tuần, các nhà khoa học đã tiến hành các thử nghiệm độc tính lặp lại (bán trường diễn và mạn tính). Nghiên cứu năm 2007 tiến hành cho chuột cống uống dịch chiết nước Artemisia afra với liều 0,1 hoặc 1 g/kg/ngày liên tục trong suốt 3 tháng (90 ngày) [3]. Kết quả cho thấy toàn bộ chuột đều sống sót sau 3 tháng thí nghiệm [3].

Đặc biệt, động vật không có bất kỳ thay đổi bất thường nào về hành vi chung, các chỉ số huyết học cũng như các chỉ số sinh hóa máu [3]. Ngoại lệ duy nhất là sự sụt giảm thoáng qua của nồng độ enzym men gan AST [3]. Trọng lượng các cơ quan nội tạng không đổi và kết quả phân tích giải phẫu bệnh học cho thấy hình thái gan hoàn toàn bình thường, không xuất hiện biến đổi cấu trúc tế bào [3]. Các nhà nghiên cứu kết luận dịch chiết có nguy cơ gây độc mạn tính thấp và ở liều cao thậm chí còn có thể mang lại hiệu quả bảo vệ gan [3].

Tương tự, nghiên cứu năm 2025 đánh giá dịch chiết nước lá Artemisia roxburghiana chuẩn hóa theo hướng dẫn OECD 407 trên chuột nhắt trắng với các liều 200, 400 và 600 mg/kg thể trọng dùng liên tiếp 28 ngày [2]. Kết thúc nghiên cứu, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng chiết xuất và nhóm đối chứng về thể trọng, trọng lượng tạng tương đối, huyết học và hóa sinh máu [2]. Cấu trúc mô bệnh học của thận và gan ở các nhóm uống dịch chiết vẫn được bảo tồn nguyên vẹn tương đương với nhóm chuột bình thường [2].

Bên cạnh dịch chiết thô, một nghiên cứu năm 2021 khảo sát hydrogel chứa chất nhầy từ Artemisia vulgaris kết hợp lô hội theo chuẩn OECD 407 và 425 trên chuột cống trắng và thỏ cái [5]. Thử nghiệm độc tính lặp lại cho thấy các chỉ số chức năng gan (LFTs) và chức năng thận (RFTs) trong máu duy trì ở mức bình thường và cấu trúc mô bệnh học của gan, thận, ruột vẫn nguyên vẹn [5].

Bằng chứng khoa học và những điều cần lưu ý

Tổng hợp các bằng chứng cho thấy dịch chiết dạng nước của các cây thuốc thuộc chi ngải cứu có độ an toàn mô học cao khi dùng đường uống [1, 3]. Các cơ quan chịu trách nhiệm xử lý chuyển hóa như gan và thận không ghi nhận các tổn thương hoại tử mô, viêm nhiễm hay xơ hóa trong các thử nghiệm bán trường diễn từ 28 ngày đến 3 tháng ở động vật [1, 3]. Thậm chí chỉ số men gan AST còn có xu hướng giảm thoáng qua, gợi ý tiềm năng hỗ trợ tế bào gan [3].

Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất của y văn hiện tại là dữ liệu trực tiếp về độc tính cấp và bán trường diễn của riêng loài ngải nhật (Artemisia japonica) vẫn còn thiếu hụt, chủ yếu chỉ mới khảo sát tác dụng hạ sốt và giảm viêm thực nghiệm [1]. Đa phần kết quả an toàn gan thận hiện nay được ngoại suy từ các loài ngải họ hàng gần như Artemisia afra, Artemisia roxburghiana hoặc chất nhầy Artemisia vulgaris [1, 2, 3].

Quan trọng hơn, toàn bộ các dữ liệu trên đều là nghiên cứu trên động vật gặm nhấm (chuột cống, chuột nhắt) trong phòng thí nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt về độ tinh khiết dịch chiết [1, 3]. Con người có sự khác biệt lớn về tốc độ chuyển hóa enzym gan, hệ vi sinh đường ruột và tính nhạy cảm cơ địa so với động vật gặm nhấm. Do đó, kết quả an toàn trên chuột không thể đồng nghĩa tuyệt đối với việc người dùng uống ngải nhật liên tục quanh năm mà không lo tác dụng phụ.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng ngải dược liệu

Một hiểu lầm hết sức phổ biến là cho rằng "thảo dược thiên nhiên thì uống bao nhiêu và uống bao lâu cũng vô hại". Dù dịch chiết nước chi ngải cho thấy LD50 đường uống rất cao trên động vật [1, 4], việc tự ý cô đặc dịch chiết thành cao đậm đặc hoặc lạm dụng liều lượng quá mức cho phép trong thời gian kéo dài đều có thể tạo gánh nặng giải độc cho gan và hệ thống bài tiết ở thận.

Hiểu lầm thứ hai là đánh đồng độ an toàn của dịch chiết nước sắc truyền thống với dạng tinh dầu bay hơi. Một nghiên cứu năm 2013 trên tinh dầu cây ngải hoa vàng (Artemisia annua) chỉ ra rằng tinh dầu chứa hàm lượng lớn các chất dễ bay hơi như artemisia ketone (35,7%), alpha-pinene (16,5%) và 1,8-cineole (5,5%) với các kiểu hình hóa học rất phức tạp [6]. Dù tinh dầu nghiên cứu này được đánh giá có độc tính tương đối thấp và có tiềm năng chống oxy hóa [6], độc tính của tinh dầu nguyên chất luôn khác biệt hoàn toàn với dịch chiết nước và không thể tùy tiện uống liều cao.

Hiểu lầm thứ ba là cho rằng có thể dùng ngải để thay thế hoàn toàn các thuốc chữa bệnh suy gan, suy thận hoặc hạ sốt theo chỉ định của y tế hiện đại. Dù ngải nhật có tác động làm giảm nhiệt độ và giảm cytokine gây sốt TNF-alpha, IL-6 ở chuột [1], người bệnh sốt cao hoặc có bệnh lý mạn tính vẫn cần được chẩn đoán và điều trị theo phác đồ khoa học.

Những ai cần thận trọng khi sử dụng?

Vì hiện tại chưa có dữ liệu nghiên cứu an toàn lâm sàng đầy đủ của cây ngải nhật trên người, những nhóm đối tượng đặc biệt sau đây cần hết sức thận trọng và tránh tự ý sử dụng:

  • Phụ nữ đang mang thai và phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú: Chưa có nghiên cứu xác lập liều an toàn của ngải nhật trên thai nhi và trẻ bú mẹ.
  • Trẻ nhỏ và người cao tuổi: Đây là những nhóm đối tượng có chức năng chuyển hóa thuốc tại gan và tốc độ lọc cầu thận chưa hoàn thiện hoặc đã suy giảm theo sinh lý tự nhiên.
  • Người đang có bệnh lý gan, thận mạn tính: Bệnh nhân suy gan, men gan tăng cao do virus, xơ gan, suy thận mạn tuyệt đối không tự ý dùng nước sắc ngải nhật thay nước lọc hàng ngày khi chưa có sự tư vấn chuyên môn.
  • Người đang dùng thuốc điều trị chuyển hóa: Việc uống lượng lớn thảo dược có thể gây tương tác cạnh tranh enzym tại gan, làm biến đổi nồng độ thuốc điều trị bệnh nền trong máu.

Lời khuyên áp dụng an toàn trong đời sống

Nếu bạn có nhu cầu sử dụng ngải nhật hoặc các loài thảo dược chi ngải theo kinh nghiệm dân gian để giải nhiệt hoặc hỗ trợ sức khỏe, hãy tuân thủ các nguyên tắc thận trọng sau:

  • Dùng lượng vừa phải: Chỉ nên sắc uống với lượng vừa phải, không nên tự ý nấu nước quá đặc hoặc uống liên tục trong nhiều tuần liền mà không ngắt quãng.
  • Cách chế biến: Nên sử dụng theo dạng sắc nước uống truyền thống, bởi các nghiên cứu an toàn hiện có đều mô phỏng dạng sắc nước [1, 3]. Tránh tự ý pha chế và uống các dạng cồn thuốc đậm đặc hay tinh dầu chiết xuất khi chưa có hướng dẫn y khoa.
  • Lắng nghe cơ thể: Trong quá trình dùng, nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu khác lạ nào như mệt mỏi, chán ăn, vàng mắt, tiểu sẫm màu, buồn nôn, cần ngưng dùng ngay lập tức và đến cơ sở y tế kiểm tra chức năng gan thận.
  • Tham vấn chuyên gia: Luôn trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia y học cổ truyền để được xác định rõ loại dược liệu chuẩn xác, tránh nhầm lẫn cây cỏ ngoài tự nhiên và được kê đơn phù hợp với thể trạng.

Tóm lại, các dữ liệu thực nghiệm trên động vật gặm nhấm cho thấy dịch chiết nước thuộc chi ngải có ngưỡng an toàn cao, không gây tổn hại cấu trúc hay chức năng gan, thận ở liều thử nghiệm [1, 3]. Tuy vậy, do chưa có dữ liệu lâm sàng dài hạn trên người với riêng loài ngải nhật, người dân cần giữ sự thận trọng chừng mực, không tự ý uống kéo dài thay nước và luôn hỏi ý kiến bác sĩ khi có bệnh nền.