Nhiều người tìm đến các sản phẩm bổ sung vi chất dạng xịt dưới lưỡi với hy vọng dưỡng chất ngấm nhanh, không phải nuốt viên nén to và tránh kích ứng dạ dày. Folate (hay vitamin B9) dạng xịt niêm mạc miệng cũng thường được quảng cáo sở hữu sinh khả dụng vượt trội so với dạng viên uống truyền thống.
Tuy nhiên, liệu hấp thu qua niêm mạc miệng có thực sự tạo ra khác biệt lớn về nồng độ chất trong máu so với đường tiêu hóa hay không? Dữ liệu dược động học lâm sàng cho thấy hiệu quả hấp thu giữa hai con đường này phụ thuộc rất lớn vào bản chất từng hoạt chất, và không phải hợp chất nào khi dùng dưới lưỡi cũng tạo ra ưu thế vượt bậc.
Cơ chế hấp thu qua niêm mạc miệng và đường ruột
Khi nuốt viên uống thông thường, hoạt chất phải đi qua thực quản xuống dạ dày và ruột non. Tại đây, chất dinh dưỡng được hấp thu qua niêm mạc ruột, chuyển vào tĩnh mạch cửa rồi đi thẳng tới gan trước khi vào vòng tuần hoàn chung. Quá trình này chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng chuyển hóa bước đầu qua gan (first-pass metabolism), dịch tiêu hóa, thức ăn và các protein vận chuyển tại thành ruột non. Axit folic và methotrexate được biết đến là hấp thu một phần qua hệ thống protein vận chuyển chung tại ruột [1].
Ngược lại, vùng niêm mạc dưới lưỡi có lớp biểu mô tương đối mỏng và mạng lưới mao mạch dày đặc. Dùng thuốc hoặc vi chất xịt dưới lưỡi nhằm mục tiêu đưa hoạt chất khuếch tán thẳng qua mao mạch vào máu tĩnh mạch cảnh, đi thẳng về tim mà không đi qua gan trước.
Mặc dù lý thuyết này rất hứa hẹn, khả năng một chất ngấm tốt qua niêm mạc miệng phụ thuộc vào kích thước phân tử, tính tan trong dầu hay nước và thời gian lưu giữ tại khoang miệng trước khi người dùng nuốt dịch tiết xuống dạ dày.
Bằng chứng dược động học: Sublingual so với đường uống
Trên thực tế, các thử nghiệm so sánh trực tiếp dược động học giữa đường dưới lưỡi và đường uống cho kết quả rất khác nhau tùy theo loại phân tử.
Một nghiên cứu công bố năm 1986 trên 8 người tình nguyện nam khỏe mạnh đánh giá sinh khả dụng của propranolol (10 mg) [2]. Kết quả cho thấy sinh khả dụng tương đối qua đường dưới lưỡi đạt 63 ± 22%, trong khi đường uống chỉ đạt 25 ± 8% [2]. Thời gian lưu trú trung bình (MRT) của thuốc trong cơ thể sau khi dùng dưới lưỡi là 6,4 ± 1,3 giờ, kéo dài hơn đáng kể so với đường uống (5,7 ± 1,3 giờ, P < 0,05) [2]. Đường dưới lưỡi giúp hoạt chất này tránh được chuyển hóa qua gan bước đầu, tạo đường cong nồng độ kéo dài [2].
Một thử nghiệm khác năm 1986 trên 8 người tình nguyện khỏe mạnh so sánh triazolam 0,5 mg dùng dưới lưỡi và uống ngẫu nhiên [3]. Kết quả chỉ ra diện tích dưới đường cong (AUC) của đường dưới lưỡi đạt 28,9 ng-hr/mL, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 22,6 ng-hr/mL của đường uống (P < 0,025) [3]. Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) sau khi ngậm dưới lưỡi cũng cao hơn (4,7 ng/mL so với 3,9 ng/mL) [3]. Sinh khả dụng của triazolam tăng trung bình 28% qua đường dưới lưỡi, được lý giải do giảm bớt chuyển hóa bước đầu [3].
Nghiên cứu năm 1984 trên người cũng ghi nhận sinh khả dụng tương đối của isosorbide dinitrate dạng ngậm dưới lưỡi cao gấp khoảng 2 lần so với dạng uống (P < 0,01) [4]. Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khi uống dạng viên 10 mg chỉ bằng khoảng một nửa so với dùng dạng viên ngậm dưới lưỡi 5 mg khi đã hiệu chỉnh theo liều [4]. Đồ thị nồng độ theo thời gian của liều 5 mg dưới lưỡi tương đương với khi uống dung dịch 10 mg [4].
Khi đường dưới lưỡi không tạo ra ưu thế
Dù một số hoạt chất hấp thu vượt trội qua niêm mạc miệng, không phải chất nào cũng cho kết quả tương tự.
Nghiên cứu năm 1993 trên 6 bệnh nhân ung thư dùng morphine sulfate liều 10 mg qua đường tiêm bắp, uống và dưới lưỡi [5]. Phân tích dược động học kết luận việc dùng dưới lưỡi không đem lại ưu thế sinh khả dụng nào so với đường uống thông thường [5].
Tương tự, một nghiên cứu năm 2012 trên 6 người lớn ghép gan so sánh thuốc ức chế miễn dịch tacrolimus dùng đường uống và dưới lưỡi trong 2 ngày liên tiếp [6]. Các thông số nồng độ đáy trong máu toàn phần (10,4 ± 7,4 ng/mL ở đường uống so với 11,2 ± 11,3 ng/mL ở đường dưới lưỡi), diện tích dưới đường cong AUC (181,5 ± 114,1 so với 160,8 ± 115,9 ng.h/mL), thời gian đạt đỉnh Tmax (1,9 ± 1,2 so với 1,4 ± 0,7 giờ) và nồng độ đỉnh Cmax (19,9 ± 10,8 so với 17,2 ± 11,7 ng/mL) đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [6].
Dữ liệu cho thấy đường dưới lưỡi chỉ đạt nồng độ điều trị tương đương đường uống chứ không hề tạo ra sự hấp thu vượt bậc cho mọi loại phân tử [6].
Tương tác hấp thu qua đường tiêu hóa của folate
Đối với folate và axit folic, khả năng hấp thu tại thành ruột phụ thuộc vào cơ chế vận chuyển đặc thù. Một thử nghiệm năm 2003 trên 10 bệnh nhân Crohn ổn định dùng methotrexate liều 15-25 mg kết hợp hoặc không kết hợp với 5 mg axit folic đường uống [1]. Kết quả cho thấy sinh khả dụng tương đối của methotrexate đường uống là 0,73 (KTC 95%: 0,62-0,86) và khi dùng kèm axit folic là 0,77 (KTC 95%: 0,60-0,99), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê [1]. Việc bổ sung axit folic không làm ảnh hưởng xấu đến sinh khả dụng của hoạt chất dùng chung qua đường tiêu hóa [1].
Tại mô hình động vật năm 1998, việc phối hợp axit folic với phức hợp sắt đạm tự nhiên (TM/FMOA+FOL) ở chuột cũng cho thấy sự hiện diện của axit folic không làm thay đổi sinh khả dụng của sắt, đạt khoảng 80% ở chuột thiếu máu [7].
Nghiên cứu năm 2009 trên chuột Sprague-Dawley cho thấy axit folic gắn trên bề mặt liposome giúp tăng diện tích dưới đường cong AUC của cefotaxime lên 1,4-2 lần và tăng Cmax lên 1,2-1,8 lần qua cơ chế nội thực bào trung gian thụ thể tại ruột [8].
Lợi ích thực tế và những hiểu lầm thường gặp
Hiểu lầm phổ biến là bất kỳ hoạt chất nào bào chế dưới dạng xịt hoặc ngậm dưới lưỡi cũng ngấm nhanh hơn, hấp thu nhiều hơn gấp nhiều lần dạng uống. Khoa học chứng minh đường dùng dưới lưỡi chỉ tạo ưu thế sinh khả dụng rõ rệt cho các phân tử chịu chuyển hóa qua gan rất mạnh hoặc bị phân hủy nhiều bởi dịch dạ dày [5, 7, 8]. Với các chất không bị phá hủy hoặc cơ chế vận chuyển qua ruột đã tối ưu, đường dưới lưỡi chỉ đem lại hiệu quả ngang bằng [4, 6].
Lợi ích thực tế lớn nhất của folate dạng xịt dưới lưỡi không nhất thiết nằm ở sự thần thánh hóa về mặt sinh khả dụng. Dạng dùng này đem lại sự tiện lợi rõ rệt cho những người gặp hội chứng khó nuốt, người cao tuổi, người hay nôn nghén trong thai kỳ hoặc người mắc bệnh lý viêm teo dạ dày làm giảm tiết dịch tiêu hóa.
Tuy nhiên, người dùng cần lưu ý nếu nuốt quá nhanh ngay sau khi xịt, dung dịch xịt dưới lưỡi thực chất sẽ đi xuống dạ dày và hấp thu theo con đường tiêu hóa thông thường.
Ai nên thận trọng khi lựa chọn dạng dùng?
Những người mắc các bệnh lý viêm loét khoang miệng, nhiệt miệng diện rộng hoặc nấm miệng không nên ưu tiên dùng dạng xịt niêm mạc. Kích ứng tại chỗ từ phụ liệu hoặc cồn trong dung dịch xịt có thể gây xót rát và làm thay đổi diện tích hấp thu qua mao mạch.
Bệnh nhân mắc các bệnh lý đường ruột như bệnh Crohn hay hội chứng ruột ngắn cần có đánh giá kỹ lưỡng của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa, bởi khả năng hấp thu qua đường ruột ở nhóm người này vốn đã biến thiên thất thường [1].
Người đang điều trị bằng các thuốc hóa trị, thuốc ức chế miễn dịch hoặc methotrexate cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi tự ý dùng bổ sung axit folic hay folate dạng xịt liều cao, nhằm tránh ảnh hưởng đến phác đồ điều trị [1].
Hướng dẫn sử dụng và áp dụng trong đời sống
Để folate hoặc các vi chất dạng xịt khoang miệng đạt hiệu quả tốt, kỹ thuật dùng đóng vai trò quyết định:
Khi dùng dạng xịt dưới lưỡi, nên nâng lưỡi lên và hướng đầu vòi xịt vào phần sàn miệng dưới lưỡi hoặc mặt trong má. Giữ yên chất lỏng tại khoang miệng khoảng 30 đến 60 giây trước khi nuốt để mao mạch niêm mạc kịp hấp thu, tránh uống nước hoặc súc miệng ngay lập tức.
Đối với người bình thường không có vấn đề về nuốt hay đường tiêu hóa, dạng viên uống truyền thống vẫn là giải pháp kinh tế, hiệu quả và có đầy đủ bằng chứng khoa học bảo đảm nồng độ dưỡng chất cho cơ thể.
Folate dạng xịt dưới lưỡi là giải pháp thay thế thuận tiện cho người gặp khó khăn khi uống viên nén, nhưng người dùng không nên kỳ vọng một bước nhảy vọt thần kỳ về khả năng hấp thu so với dạng uống nếu đường tiêu hóa hoàn toàn khỏe mạnh. Cân bằng chế độ ăn giàu rau xanh, đậu hạt kết hợp dùng đúng liều lượng chỉ định vẫn là nền tảng quan trọng nhất.




