Nhiều gia đình vẫn giữ thói quen hái vỏ cây mọc hoang trên đồi núi về sắc nước uống mỗi khi bị sốt cao hoặc cảm mạo. Trong số đó, cây thanh thất (tên khoa học Ailanthus altissima, còn gọi là thanh thất núi cao, mộc căn bì) thường được truyền tai như vị thuốc giải nhiệt, hạ nhiệt cấp tốc. Tuy nhiên, việc tự ý khai thác và dùng quá liều loại vỏ cây này tiềm ẩn nhiều mối nguy khôn lường cho sức khỏe, đặc biệt là nguy cơ nhiễm độc cơ quan nội tạng.
Dù được dùng trong một số bài thuốc dân gian, nước sắc vỏ cây thanh thất không phải là dung dịch hạ sốt lành tính để dùng tùy tiện. Việc đun sắc đậm đặc hoặc uống kéo dài mang lại rủi ro ngộ độc gan cấp và phản ứng độc tính nghiêm trọng do các hoạt chất tự nhiên cực mạnh có sẵn trong cây.
Thói quen truyền miệng hạ sốt bằng vỏ cây rừng
Mỗi đợt thời tiết chuyển mùa, tình trạng sốt do virus, cảm cúm lại gia tăng ở nhiều vùng miền. Tâm lý e ngại thuốc tây hoặc chuộng "cây nhà lá vườn" khiến không ít người tìm đến vỏ thân cây rừng để đun nước uống nhằm lui cơn sốt.
Cây thanh thất mọc hoang khá phổ biến và trong y học cổ truyền Trung Hoa, vỏ thân của nó từng được dùng như một vị thuốc đắng có mùi thơm để điều trị cảm lạnh và bệnh dạ dày [1]. Vỏ và lá của loài cây này cũng từng được y học dân gian châu Âu sử dụng nhằm trị nhiễm giun sán đường ruột [2].
Tuy nhiên, người xưa dùng dược liệu với sự chọn lọc khắt khe về thời điểm thu hái, liều lượng tính bằng gram và quá trình bào chế phức tạp. Việc người dân ngày nay tự ý chặt vỏ tươi, bốc từng nắm lớn đun sôi để hạ sốt cấp tốc là cách làm hoàn toàn sai lầm.
Nước sắc tự chế này thường chứa nồng độ hợp chất tan tự do rất cao, vượt ngưỡng dung nạp của cơ thể. Uống nước vỏ cây đậm đặc không những không thể cắt cơn sốt an toàn mà còn đẩy gan vào tình trạng quá tải chuyển hóa độc tố.
Bản chất hoạt tính sinh học trong vỏ thanh thất
Để hiểu vì sao vỏ cây thanh thất dễ gây độc, cần nhìn vào thành phần hóa học tự nhiên của thảo mộc này. Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra vỏ thân thanh thất chứa nhiều nhóm hoạt chất có độc tính sinh học rất cao [3].
Khi phân tích vỏ thân cây, các nhà khoa học đã phân lập được các quassinoid độc hại, nổi bật nhất là hoạt chất ailanthone [2]. Ailanthone thể hiện hoạt tính sinh học cực mạnh thông qua cơ chế phá hủy cấu trúc tế bào sinh dưỡng và gây ức chế sinh sản không thể hồi phục ở ấu trùng [2].
Bên cạnh quassinoid, phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân thanh thất còn chứa 13 hợp chất khác nhau, trong đó có alkaloid beta-carboline mang tên 9-hydroxycanthin-6-one [4]. Hoạt chất này kích hoạt quá trình tự chết của tế bào (apoptosis) thông qua việc tăng mức tích tụ các gốc oxy hóa tự do (ROS) và kích hoạt các enzyme caspase-3, -8, -9 [4].
Chính vì chứa những hoạt chất có khả năng tiêu diệt tế bào mạnh, vỏ thanh thất sở hữu dược tính tương đương những chất ức chế mạnh. Khi nạp vào cơ thể qua đường uống với lượng lớn không kiểm soát, các hóa chất này tạo ra gánh nặng cực lớn cho tế bào gan.
Nghiên cứu khoa học nói gì về độc tính của thanh thất?
Nhiều công trình quốc tế đã tập trung làm rõ tác động sinh học và mức độ độc tính của các bộ phận trên cây Ailanthus altissima. Các kết quả cho thấy toàn bộ các phần của cây, đặc biệt là vỏ và lá, đều chứa những hợp chất có độc lực rõ rệt.
Một nghiên cứu công bố năm 2020 trên tạp chí khoa học đã đánh giá chiết xuất methanol-nước (tỷ lệ 7:3) từ vỏ thân chính của thanh thất trên mô hình sinh vật [2]. Kết quả cho thấy ở nồng độ 1 mg/mL, chiết xuất vỏ cây ức chế sinh sản vĩnh viễn ở ấu trùng L4 của tuyến trùng Caenorhabditis elegans [2]. Hoạt chất ailanthone phân lập được có nồng độ ức chế một nửa (IC50) rất thấp, chỉ 2,47 microM, gây tổn hại nặng nề màng tế bào mầm và kích hoạt yếu tố phiên mã phản ứng căng thẳng DAF-16 [2].
Năm 2018, một nghiên cứu khác công bố trên tạp chí chuyên ngành đã kiểm tra tác động của ailanthone chiết xuất từ thanh thất trên dòng tế bào bạch cầu HL-60 của người [5]. Nghiên cứu chỉ ra ailanthone gây độc tế bào mạnh mẽ, làm tăng tế bào chết rụng và tăng tỷ lệ tế bào ở pha G0/G1 phụ thuộc vào nồng độ [5]. Hợp chất này thúc đẩy quá trình tự thực bào (autophagy) và apoptosis bằng cách điều hòa biểu hiện các protein beclin-1, LC3-II, làm giảm LC3-I và p62 [5].
Về mặt độc tính trên mô thực nghiệm năm 2024, một nghiên cứu khảo sát chiết xuất lá thanh thất trên nhiều mô hình tế bào đích và không đích [6]. Ở thử nghiệm tôm ngâm nước muối, chiết xuất biểu hiện độc tính sau 24 giờ với LC50 đạt mức 951,04 microg/mL, và mức độ độc tăng dần theo thời gian tiếp xúc lẫn nồng độ [6]. Mặc dù chiết xuất lá cho thấy độc tính thấp đối với hồng cầu và tương thích sinh học với nguyên bào sợi nướu người, nhưng ở nồng độ 10-500 microg/mL, nó không thể hiện tác dụng chống tăng sinh trên tế bào ung thư biểu mô tế bào gan (HepG2) [6].
Ngoài độc tính nội tạng qua đường tiêu hóa, nhựa của cây thanh thất cũng gây phản ứng mô rất dữ dội. Báo cáo lâm sàng năm 2013 ghi nhận trường hợp một thợ chăm sóc cây nhập viện vì viêm da tiếp xúc cấp tính nghiêm trọng ở cả hai cẳng tay do dính nhựa cây thanh thất [3]. Da bệnh nhân xuất hiện nhiều mảng thâm đen không biến mất khi ấn, tạo bóng nước lớn và bong tróc lớp thượng bì, phải điều trị tích cực bằng steroid bôi ngoài và kháng histamin đường uống trong ba tuần [3].
Nguy cơ tổn thương gan khi dùng nước sắc hạ sốt quá liều
Gan là cơ quan chính chịu trách nhiệm chuyển hóa và giải độc tất cả các chất lạ đưa vào đường tiêu hóa. Khi một người bị sốt, cơ thể đang ở trong trạng thái viêm, chuyển hóa năng lượng tăng cao và tế bào gan đang phải xử lý nhiều gốc tự do.
Việc uống nước sắc đậm đặc từ vỏ thanh thất đồng nghĩa với việc đưa trực tiếp hàng chục hợp chất chuyển hóa phức tạp vào cơ thể. Trong số 89 hợp chất được phát hiện từ vỏ khô của thanh thất, nhiều chất có khả năng liên kết rất mạnh với các thụ thể protein của người [7]. Các alkaloid như 9-hydroxycanthin-6-one làm tăng vọt lượng gốc oxy hóa nội bào (ROS) [4].
Nồng độ ROS vượt ngưỡng kiểm soát sẽ gây stress oxy hóa trầm trọng cho tế bào gan. Tình trạng này có thể kích hoạt các enzyme caspase hủy hoại tế bào, dẫn đến suy giảm tế bào gan cấp tính. Do không có quy chuẩn về hàm lượng, người nấu nước sắc rất dễ đun cạn ở nồng độ cao hơn mức 1 mg/mL – nồng độ vốn đã đủ gây phá hủy cấu trúc tế bào sinh học trong các thử nghiệm [2].
Khi gan bị tổn thương cấp do độc thảo mộc, bệnh nhân không những không khỏi sốt mà còn có thể xuất hiện triệu chứng vàng da, mệt lả, men gan tăng vọt và suy giảm chức năng tổng hợp protein của gan.
Hiểu lầm phổ biến về việc hạ sốt bằng thảo mộc
Sai lầm lớn nhất của nhiều người là tin rằng "cây cỏ thiên nhiên thì không độc". Sự thật là rất nhiều loài thực vật tự nhiên tổng hợp các chất chuyển hóa độc hại để tự bảo vệ trước sâu bọ và loài ăn cỏ. Tinh dầu từ vỏ thân thanh thất chứa tới 54,1% hydrocarbon sesquiterpene, có tính ức chế sinh trưởng mạnh [1].
Nhiều người cũng lầm tưởng hễ thấy thuốc có vị đắng là có tính chất "thanh nhiệt giải độc". Vỏ thanh thất rất đắng [1], nhưng vị đắng đó bắt nguồn từ các quassinoid độc hại như ailanthone [2]. Uống nước sắc có vị quá đắng và chát ở nồng độ cao dễ gây co thắt đường tiêu hóa và kích ứng niêm mạc dạ dày.
Một hiểu lầm khác là cho rằng nước vỏ cây giúp hạ sốt nhanh hơn thuốc thông thường. Thực tế, không có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên người chứng minh vỏ cây thanh thất là thuốc hạ sốt an toàn hay hiệu quả. Tự ý thay thế phương pháp y khoa bằng thảo mộc trôi nổi chỉ làm chậm trễ thời gian chẩn đoán các bệnh lý nhiễm trùng nguy hiểm gây sốt.
Những ai cần tuyệt đối thận trọng?
Chưa có bất kỳ nghiên cứu an toàn nào về việc sử dụng vỏ thanh thất trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy hoạt chất ailanthone trong vỏ cây gây tổn hại nặng nề đến tế bào mầm và ức chế sinh sản vĩnh viễn trên mô hình gián tiếp [2]. Do đó, phụ nữ có thai hoặc dự định mang thai tuyệt đối không được tiếp xúc hay uống nước sắc từ loại cây này.
Trẻ em là đối tượng có hàng rào bảo vệ gan chưa hoàn thiện, khả năng liên hợp và đào thải độc chất rất yếu. Cho trẻ uống nước vỏ cây rừng hạ sốt có thể dẫn tới ngộ độc gan cấp tính, suy hô hấp hoặc co giật.
Người có bệnh nền về gan (viêm gan B, xơ gan, gan nhiễm mỡ) hoặc suy giảm chức năng thận cần tránh xa mọi loại nước sắc truyền miệng chưa được chuẩn hóa. Hệ thống gan thận vốn đã suy yếu sẽ dễ dàng sụp đổ trước độc tính từ các quassinoid và alkaloid đậm đặc [1, 5].
Những người làm công việc cắt tỉa cây cỏ, nông dân vùng đồi núi cũng cần thận trọng khi tiếp xúc với vỏ và nhựa cây thanh thất. Nhựa cây có thể gây tổn thương da hoại tử sâu, đóng vảy đen và phồng rộp cấp tính [3].
Cách ứng xử đúng và an toàn khi bị sốt
Sốt là phản ứng tự nhiên của hệ miễn dịch chống lại tác nhân gây bệnh (vi khuẩn, virus). Khi xuất hiện triệu chứng sốt cao, nguyên tắc đầu tiên là phải theo dõi sát nhiệt độ cơ thể bằng nhiệt kế.
Để hạ sốt an toàn tại nhà, hãy áp dụng các biện pháp đã được chứng minh khoa học: nghỉ ngơi nơi thoáng khí, mặc quần áo rộng rãi, chườm ấm ở các vùng có mạch máu lớn như nách, bẹn. Người bệnh cần uống đủ nước, bổ sung dung dịch điện giải hoặc nước trái cây để bù lại lượng chất lỏng mất qua mồ hôi.
Chỉ sử dụng các thuốc hạ sốt phổ thông đúng liều lượng và khoảng cách theo hướng dẫn trên nhãn hoặc chỉ định của nhân viên y tế. Tuyệt đối không tự ý phối hợp nhiều loại thảo mộc không rõ nguồn gốc hay các loại vỏ cây hái từ rừng để đun uống thay nước.
Nếu cơn sốt kéo dài trên 48 giờ, sốt cao liên tục không đáp ứng với thuốc hoặc kèm theo các dấu hiệu cảnh báo như khó thở, co giật, lơ mơ, nôn ói nhiều, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và làm xét nghiệm tìm nguyên nhân.
Lời khuyên cân bằng cho sức khỏe
Các bài thuốc dân gian từ thảo mộc là một phần di sản y học cổ truyền, nhưng việc ứng dụng đòi hỏi tri thức chuẩn hóa và kiểm nghiệm khoa học nghiêm ngặt. Thanh thất có thể chứa một số hoạt chất tiềm năng chống viêm hay ức chế tế bào bệnh trong phòng thí nghiệm [5, 6, 7], song nó cũng đồng thời chứa các độc tố mạnh đối với sinh vật sống [1, 2].
Người dân không nên đánh cược lá gan và sức khỏe của bản thân bằng việc tự ý sắc vỏ cây thanh thất hạ sốt tại nhà. Trước mọi vấn đề về sức khỏe, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị an toàn, dựa trên bằng chứng khoa học xác thực.


