Nhầm lẫn phổ biến từ tên gọi hoa phượng

Vào mùa hè, sắc đỏ rực của hoa phượng vĩ gắn liền với ký ức học trò trên khắp các nẻo đường Việt Nam. Trong khi đó, tại những vùng khí hậu mát mẻ như Đà Lạt, phượng tím lại khoe sắc dịu dàng, tạo nên cảnh quan đặc trưng thu hút nhiều người.

Do cùng mang tên gọi "phượng", không ít người lầm tưởng hai loài cây này có họ hàng gần và công dụng trị bệnh tương tự nhau. Việc truyền miệng các bài thuốc dân gian từ hoa, lá phượng để trị bệnh đôi khi dẫn đến hiểu lầm tai hại, bởi bản chất sinh học và dược tính của chúng hoàn toàn tách biệt.

Thực tế khoa học chứng minh phượng tím và phượng vĩ thuộc hai họ thực vật khác hẳn nhau. Thành phần hoạt chất sinh học được tìm thấy trong từng bộ phận của mỗi cây cũng mang lại những đặc tính dược lý riêng biệt, không thể dùng thay thế cho nhau.

Khác biệt sinh học và thành phần hóa thực vật

Phượng tím có tên khoa học là Jacaranda mimosifolia, thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae) [3, 6]. Loài cây này có nguồn gốc từ Nam Mỹ, cụ thể là miền nam Bolivia và tây bắc Argentina [1]. Ngược lại, phượng vĩ quen thuộc có tên khoa học là Delonix regia, thuộc phân họ Vang nằm trong họ Đậu lớn hơn.

Nghiên cứu về thành phần hóa thực vật của hoa phượng tím (Jacaranda mimosifolia) cho thấy hàm lượng phenol tổng số biểu thị qua đương lượng axit gallic cao hơn nhiều so với dầu hạt của chính nó (0,02793 mg GAE/g) và cao hơn dịch chiết nước từng ghi nhận trước đó (49,80 mg GAE/g) [2]. Lượng polyphenol này vượt trội hơn 51 loại hoa ăn được và hoa dại (dao động 0,13 đến 11,48 mg GAE/g trọng lượng khô đối với phân đoạn tan trong nước và tan trong chất béo, hoặc từ 0,50 đến 24,36 mg GAE/g trọng lượng khô) [2].

Đối với phượng vĩ (Delonix regia), nghiên cứu chiết xuất hoa bằng dung môi methanol ghi nhận sự hiện diện của 10 nhóm hóa chất thực vật khác nhau [3]. Dù hoa phượng vĩ cũng chứa polyphenol, flavonoid hay tannin, nhưng tỷ trọng và cấu trúc hóa học của chúng không đồng nhất với các hợp chất trong phượng tím [1, 5].

Dược tính tiềm năng của hoa và lá phượng tím

Các phân tích sâu hơn về lá của cây phượng tím (Jacaranda mimosifolia) qua phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) đối với dịch chiết methanol đã phân lập được 15 hợp chất có hoạt tính sinh học [4]. Trong số này có những hoạt chất đáng chú ý như axit hexadecanoic (axit palmitic), beta-elemen, phytol, 4-(3-hydroxy-1-propenyl)-2-methoxyphenol, 2,4-bis(1,1-dimethylethyl)-phenol và các dẫn xuất axit béo [4].

Nhờ các thành phần này, dịch chiết lá phượng tím và các phân đoạn của nó thể hiện khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn và tiềm năng chống ung thư trong môi trường thử nghiệm [4]. Một nghiên cứu khác cũng đã phân lập thành công một hợp chất phenylethanoid glucoside mới cùng với hợp chất jacaranone từ lá phượng tím [5]. Các hợp chất tinh sạch này cùng dịch chiết từ lá và hoa đã chứng minh hoạt tính quét gốc tự do qua các thử nghiệm chống oxy hóa DPPH và ABTS [5].

Về phương diện độc tính sinh học đối với côn trùng, dịch chiết nước từ lá Jacaranda mimosifolia và Jacaranda decurrens ở nồng độ 5%, 10% và 15% đã được thử nghiệm trên sâu bướm Plutella xylostella [6]. Kết quả ghi nhận dịch chiết có tác dụng xua đuổi, làm giảm tỷ lệ sống sót của ấu trùng và trứng sâu bọ [6]. Ở nồng độ 10%, dịch chiết phượng tím rút ngắn đáng kể thời gian sống của cá thể thử nghiệm, và ở nồng độ 15% làm giảm sinh khối nhộng sâu [6].

Dược tính của hoa phượng vĩ: Góc nhìn khoa học

Khác với phượng tím, nghiên cứu trên dịch chiết methanol từ hoa phượng vĩ (Delonix regia) lại ghi nhận các đặc tính dược lý nổi bật về huyết học [3]. Cụ thể, dịch chiết hoa phượng vĩ cho thấy hiệu quả làm tan cục máu đông (tiêu huyết khối đạt 35,5%) và thể hiện hoạt tính chống đông máu trong thử nghiệm ống nghiệm [3].

Khi đánh giá mức độ an toàn ban đầu, dịch chiết hoa phượng vĩ cho thấy hoạt tính gây tan máu không đáng kể với nồng độ ức chế IC50 lớn hơn 200 microgam/mL [3]. Điều này ngụ ý mức độ độc tính tế bào tiềm tàng của chiết xuất hoa phượng vĩ ở mức thấp trong điều kiện phòng thí nghiệm [3].

So sánh cho thấy, trong khi phượng vĩ nổi bật với khả năng tác động lên sự đông máu và làm tan huyết khối thực nghiệm [3], thì phượng tím lại tập trung các bằng chứng về khả năng kháng khuẩn, kháng viêm và chống oxy hóa mạnh mẽ của lá và hoa [1, 2, 4].

Bằng chứng hiện tại còn những giới hạn nào?

Mặc dù các phát hiện về mặt hóa học của cả hai loài hoa đều cho thấy triển vọng tự nhiên, phần lớn các dữ liệu khoa học hiện có mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) hoặc trên côn trùng [1, 2, 3, 5]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên người để khẳng định liều lượng điều trị an toàn hay khả năng trị dứt điểm bất kỳ chứng bệnh nào từ phượng tím hay phượng vĩ.

Hàm lượng hoạt chất trong hoa phượng tím cũng biến động rất lớn tùy theo yếu tố môi trường, thời điểm thu hái hay loại dung môi chiết xuất [2]. Ví dụ, lượng tannin trong hoa phượng tím ở dịch chiết methanol thấp hơn so với dịch chiết nước, và nồng độ tannin này thấp hơn đáng kể so với các loại hoa dâm bụt hay hoa muồng hoàng yến [2].

Ngoài ra, cây phượng tím trong môi trường tự nhiên có thể bị tấn công bởi các loại nấm ký sinh mục rễ như loài Ganoderma destructans, đe dọa đến sức sống của cây [1]. Do đó, việc thu gom hoa hay lá trôi nổi ngoài môi trường tự nhiên không được kiểm soát có nguy cơ lẫn tạp chất, mầm bệnh hoặc dư lượng vi nấm độc hại.

Những hiểu lầm nguy hiểm và ai nên thận trọng

Hiểu lầm thường thấy nhất là cho rằng hoa phượng tím có thể dùng sắc nước uống thay trà mát gan, thanh nhiệt tùy tiện như một số loại thảo mộc thông thường. Việc tự ý hái hoa, lá phượng tím về ngâm rượu, sắc uống trị đau nhức hay chống viêm theo các kinh nghiệm truyền miệng là hành động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe.

Các hoạt chất sinh học trong lá phượng tím có khả năng gây độc đối với ấu trùng và ức chế phát triển sinh học [6], do đó việc hấp thu các chất này vào cơ thể người khi chưa qua tinh chế và định lượng rõ ràng có thể gây kích ứng đường tiêu hóa hoặc độc tính nội tạng.

Những nhóm đối tượng sau đây cần đặc biệt thận trọng và tuyệt đối không tùy tiện sử dụng các bài thuốc truyền miệng từ phượng tím hoặc phượng vĩ:

  • Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Chưa có bất kỳ nghiên cứu an toàn nào trên nhóm đối tượng nhạy cảm này.
  • Trẻ nhỏ và người cao tuổi có hệ tiêu hóa yếu.
  • Người đang sử dụng thuốc điều trị rối loạn đông máu: Do phượng vĩ có hoạt tính chống đông và làm tan cục máu đông [3], việc dùng tùy tiện có thể tương tác nguy hiểm với thuốc chống đông.
  • Người có bệnh lý nền về gan, thận mạn tính: Không nên dung nạp các chất chiết xuất thô chưa được kiểm chứng độ an toàn lâm sàng.

Khuyến nghị áp dụng thực tế an toàn

Hiện tại, phượng tím và phượng vĩ nên được thưởng thức đúng với giá trị lớn nhất của chúng trong đời sống là cây cảnh quan đô thị, mang lại bóng mát và không gian thư giãn tinh thần [5, 6]. Bạn không nên xem hai loài hoa này là nguồn dược liệu có thể tự khai thác tại nhà.

Nếu muốn tìm kiếm giải pháp chống oxy hóa hoặc thanh nhiệt từ thiên nhiên, người dân nên lựa chọn các loại thảo mộc, trà hoa đã được kiểm nghiệm an toàn, cấp phép rõ ràng và có hướng dẫn liều dùng cụ thể từ các cơ quan y tế.

Khi có vấn đề về sức khỏe, đau viêm hay các bệnh lý mạn tính, người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn phương pháp điều trị bài bản. Mọi ý định sử dụng bất kỳ bài thuốc dân gian mới nào cần phải tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc thầy thuốc y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề.

Tóm lại, phượng tím (Jacaranda mimosifolia) và phượng vĩ (Delonix regia) là hai loài thực vật hoàn toàn khác biệt từ phân loại sinh học cho đến các nhóm hóa chất tự nhiên bên trong [3, 5]. Mặc dù các nghiên cứu ban đầu hé lộ nhiều hoạt tính sinh học thú vị như chống oxy hóa, kháng viêm hay làm tan huyết khối thực nghiệm [2, 5], chúng ta tuyệt đối không nên đánh đồng hai loài này hay tự ý áp dụng làm thuốc khi chưa có bằng chứng lâm sàng xác đáng trên người.