Sự quan tâm đối với cây thung và thực tế nghiên cứu
Cây thung (danh pháp khoa học: Tetrameles nudiflora) là một loài cây gỗ lớn thường gặp ở các vùng rừng nhiệt đới. Trong dân gian và đời sống, nhiều người thường tìm kiếm các bài thuốc thảo mộc tự nhiên với mong muốn hỗ trợ kháng khuẩn, điều trị các bệnh viêm nhiễm hay bệnh ngoài da từ vỏ và lá của các loài cây bản địa.
Chính sự phổ biến và kích thước đồ sộ của cây thung đã làm dấy lên thắc mắc: liệu các bộ phận của loài cây này, đặc biệt là dịch chiết lá và vỏ, có thực sự mang hoạt tính kháng khuẩn mạnh mẽ như lời đồn đại hay không?
Câu trả lời thẳng thắn dựa trên các bằng chứng khoa học được ghi nhận là: Hiện chưa có bất kỳ dữ liệu hay thử nghiệm thực nghiệm nào trong cơ sở nghiên cứu cung cấp chứng minh hoạt tính kháng khuẩn của cây thung (Tetrameles nudiflora). Các kết quả nghiên cứu kháng khuẩn thường bị nhầm lẫn với các loài cây khác có tên khoa học gần giống nhưng thuộc họ thực vật hoàn toàn khác nhau.
Nguồn cơn của sự nhầm lẫn về tên khoa học
Trong giới nghiên cứu thực vật và người tìm hiểu dược liệu, sự trùng lặp về tính từ định danh loài (nudiflora mang nghĩa "hoa trần") rất dễ gây ra sự hiểu lầm nghiêm trọng nếu không đọc kỹ chi thực vật đứng trước. Cây thung (Tetrameles nudiflora) thuộc chi Tetrameles, họ Datiscaceae (hoặc Tetramelaceae), trong khi phần lớn dữ liệu kháng khuẩn hiện có lại thuộc về cây rau bao lăm (Commelina nudiflora) thuộc họ Thài lài (Commelinaceae) hoặc cây ngát (Trewia nudiflora) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Bởi vì cùng mang từ "nudiflora", nhiều tài liệu truyền miệng hoặc các trang tổng hợp kém chất lượng đã gán ghép toàn bộ hoạt tính ức chế vi sinh vật của Commelina nudiflora hay Trewia nudiflora cho cây thung Tetrameles nudiflora.
Thực tế, dịch chiết từ các loài cây khác nhau sẽ chứa cấu trúc hoạt chất hoàn toàn dị biệt, do đó không thể tùy tiện suy diễn tác dụng của một loài sang loài khác khi chưa qua thử nghiệm lâm sàng hoặc thử nghiệm ống nghiệm trực tiếp.
Bằng chứng kháng khuẩn từ các loài mang tên tương tự
Để làm rõ bức tranh khoa học và hiểu rõ nguồn gốc của các báo cáo kháng khuẩn bị nhầm lẫn, chúng ta cần điểm lại những thử nghiệm thực tế đã được công bố trên các loài cây có đuôi tên nudiflora.
Đầu tiên là nghiên cứu công bố năm 2014 đánh giá hoạt tính chống oxy hóa và kháng khuẩn in-vitro của các dịch chiết từ cây cỏ Commelina nudiflora L. bằng các dung môi có độ phân cực khác nhau [1]. Nhóm tác giả đã sử dụng kỹ thuật chiết Soxhlet với ethanol, chloroform, dichloromethane, hexane và nước [1].
Kết quả thử nghiệm cho thấy dịch chiết nước thô của Commelina nudiflora thể hiện khả năng ức chế vi khuẩn cao nhất đối với các chủng vi khuẩn gây bệnh đường ruột và nhiễm khuẩn phổ biến gồm Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli và Salmonella typhi [1]. Ngoài ra, dịch chiết nước này còn chứa hàm lượng phenolic và flavonoid phong phú hơn các phân đoạn dung môi khác, đồng thời thể hiện khả năng dọn gốc tự do đạt 63,4 mg/GAE với thử nghiệm DPPH và 49,10 mg/g với thử nghiệm ABTS [1].
Một nghiên cứu khác công bố năm 2017 về Commelina nudiflora phân tích dịch chiết methanol qua phương pháp GC-MS đã xác định 9 hợp chất có hoạt tính sinh học [2]. Trong đó, phenol đơn giản được ghi nhận có đặc tính kháng khuẩn, sát trùng; hợp chất thơm benzyl alcohol cùng dẫn xuất alkyl hóa phenol,2,4-bis(1,1-dimethylethyl) cũng được xác định có khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa [2].
Bên cạnh đó, loài Trewia nudiflora Linn. (cây ngát) thuộc họ Euphorbiaceae cũng được ghi nhận có các hoạt tính sinh học trong các bài báo tổng hợp [3]. Cây ngát là loài thân gỗ cao tới 30 m, lá mọc đối dài từ 6–21 cm [3]. Một số nghiên cứu trước đây được nhắc đến đã ghi nhận dịch chiết lá và các bộ phận chiết bằng ethanol của Trewia nudiflora có hoạt tính kháng khuẩn, chống oxy hóa và độc tế bào [3].
Đồng thời, một nghiên cứu năm 2012 đã phân lập hơn 100 chủng vi khuẩn nội sinh từ hạt của Trewia nudiflora, trong đó có 66 chủng xạ khuẩn [4]. Chủng xạ khuẩn nội sinh Streptomyces sp. HTZ 27 phân lập từ hạt cây này mang các gen sinh tổng hợp furanonaphthoquinone và được thử nghiệm cho thấy hoạt tính kháng các chủng vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus subtilis cũng như các loại nấm gây hại [4].
Khoảng trống dữ liệu đối với cây thung (Tetrameles nudiflora)
Từ các phân tích trên, điểm cốt lõi cần khẳng định là: toàn bộ các phát hiện về khả năng ức chế vi khuẩn que mủ xanh Pseudomonas aeruginosa, trực khuẩn Escherichia coli hay tụ cầu vàng Staphylococcus aureus đều xuất phát từ cây rau bao lăm Commelina nudiflora [1] hoặc các chủng xạ khuẩn nội sinh và dịch chiết cây ngát Trewia nudiflora [4, 6].
Hoàn toàn không có dữ liệu thực nghiệm nào ghi nhận trên cây thung Tetrameles nudiflora. Chúng ta chưa có bất kỳ nghiên cứu nào về việc dịch chiết vỏ, dịch chiết lá hay bất kỳ bộ phận nào của cây thung Tetrameles nudiflora có khả năng ức chế vi khuẩn trong ống nghiệm hay trên cơ thể động vật.
Do đó, mọi tuyên bố cho rằng dịch chiết vỏ và lá cây thung có công dụng kháng khuẩn mạnh, diệt trừ mầm bệnh hay chữa lành vết thương nhiễm trùng đều là sự nhầm lẫn danh pháp khoa học hoặc phóng đại không có căn cứ.
Các dữ liệu độc tính hay thành phần maytansinoid gây độc tế bào mạnh (như dehydrotrewiasine, maytanbutine, trewiasine) cũng được phân lập từ Trewia nudiflora [5, 8], chứ không phải từ cây thung Tetrameles nudiflora.
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng dược liệu dân gian
Nhiều người dân thường có thói quen nghe tên gọi tương tự hoặc nghe truyền miệng về một loài cây rừng có tác dụng sát khuẩn mà vội vã thu hái vỏ, lá về đun nước rửa hoặc đắp lên vết thương hở.
Việc tự ý sử dụng dịch chiết thực vật chưa được kiểm chứng độc tính và hoạt tính tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Vỏ và lá của các loài cây rừng chưa được nghiên cứu rõ ràng có thể chứa các độc tố tự nhiên gây viêm da tiếp xúc, dị ứng, kích ứng niêm mạc hoặc làm nặng thêm tình trạng nhiễm trùng.
Hơn nữa, các thử nghiệm kháng khuẩn của thảo dược như Commelina nudiflora mới chỉ dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm in-vitro trên các đĩa thạch và tế bào [1]. Ngay cả khi một loài cây thể hiện tính kháng khuẩn trong ống nghiệm, việc chuyển giao sang ứng dụng điều trị trên người đòi hỏi các bước nghiên cứu lâm sàng khắt khe về liều lượng an toàn, sinh khả dụng và độc tính toàn thân.
Ai nên thận trọng?
Vì cây thung (Tetrameles nudiflora) chưa có bất kỳ nghiên cứu khoa học nào xác nhận độ an toàn cũng như hiệu quả trên người, các nhóm đối tượng sau tuyệt đối không tự ý dùng thử dưới mọi hình thức:
- Phụ nữ có thai và phụ nữ đang cho con bú: Chưa có dữ liệu về độc tính phôi thai hoặc khả năng bài tiết qua sữa mẹ.
- Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Da và hệ tiêu hóa của trẻ rất nhạy cảm với các hợp chất lạ từ vỏ cây rừng.
- Người có vết thương hở, vết bỏng hoặc loét da: Tuyệt đối không đắp lá hay vỏ cây thung giã nát, hành động này có thể gây bội nhiễm vi khuẩn nguy hiểm và hoại tử mô.
- Người có bệnh lý nền về gan, thận hoặc người đang dùng thuốc điều trị mạn tính: Tránh uống nước sắc từ các loại cây rừng chưa rõ thành phần hóa học để ngăn ngừa nguy cơ ngộ độc tế bào gan hoặc suy thận cấp.
Lời khuyên áp dụng thực tế và an toàn
Trong đời sống hàng ngày, khi gặp phải các tình trạng nhiễm khuẩn da, viêm đường ruột hay các bệnh lý truyền nhiễm, người dân không nên tự ý tìm kiếm các loại lá, vỏ cây rừng như cây thung để tự điều trị.
Nếu muốn ứng dụng các thảo dược có tính kháng khuẩn đã được nghiên cứu, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền hoặc chuyên gia y tế có chuyên môn. Sử dụng các nguồn dược liệu đã được chuẩn hóa, có nguồn gốc rõ ràng và có hồ sơ an toàn đầy đủ.
Đối với các triệu chứng nhiễm khuẩn nghiêm trọng, việc thăm khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được kê đơn thuốc kháng sinh phù hợp và đúng phác đồ là biện pháp can thiệp khoa học và an toàn nhất. Không nên mạo hiểm sức khỏe bản thân dựa trên những kiến thức chưa được kiểm chứng.
