Bối cảnh và thắc mắc thường gặp
Nhiều người có thói quen kết hợp đông y và tây y nhằm nâng cao hiệu quả trị liệu các bệnh mạn tính [1, 2]. Trong số các dược liệu cổ truyền, thổ tế tân (tế tân, tên khoa học thuộc chi Asarum) thường được sử dụng nhằm mục đích giảm đau hoặc giảm ho [3, 7, 8]. Tuy nhiên, việc tự ý phối hợp vị thuốc này với thuốc tây y điều trị tăng huyết áp hoặc bệnh lý thận tiềm ẩn nhiều mối lo ngại về an toàn [1, 5].
Một vấn đề phổ biến là người bệnh thường coi thảo dược tự nhiên là an toàn và ít khi thông báo cho bác sĩ điều trị [2, 8]. Điều này tạo ra rủi ro tương tác bất lợi, đặc biệt là nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng thận và quá trình thanh thải hoạt chất [1, 5].
Câu trả lời ngắn về tương tác dùng chung
Người đang điều trị bệnh lý về thận hoặc đang sử dụng thuốc kiểm soát huyết áp không nên tự ý dùng chung với thổ tế tân [1, 5].
Dược liệu này chứa các hợp chất họ axit aristolochic và dẫn xuất aristolactam vốn có khả năng gây độc thận [3, 7, 8]. Khi kết hợp cùng các nhóm thuốc tác động lên huyết động và hệ bài tiết, tương tác bất lợi có thể làm tăng gánh nặng đào thải qua cầu thận, cản trở chuyển hóa thuốc và gia tăng nguy cơ suy giảm chức năng thận [1, 5, 6].
Cơ chế tác động giải thích dễ hiểu
Cơ chế gây hại chính đến từ các dẫn xuất chuyển hóa đặc thù có trong chi thực vật này và hiện tượng can thiệp dược động học [3, 5, 7]. Thổ tế tân thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae), nhóm thực vật được xác định chứa các hợp chất axit aristolochic hoặc aristolactam [3, 7, 8]. Những phân tử này có thể gây tổn thương mô kẽ, xơ hóa thận hoặc tạo phức hợp liên kết ADN (DNA adduct) dẫn đến độc tính trên tế bào thận [7, 8].
Khi dùng đồng thời với các thuốc điều trị chuyển hóa qua các enzym gan hoặc bài tiết qua thận, hoạt chất thảo dược có thể gây xung đột đường chuyển hóa [4, 5]. Sự tương tranh này làm thay đổi nồng độ thuốc trong huyết tương, cản trở sự đào thải hoặc làm tăng độc tính nội tại lên các đơn vị lọc cầu thận [1, 5]. Bên cạnh đó, việc cơ thể phải xử lý đồng thời nhiều chất hóa học trong tình trạng chức năng thận đã suy giảm sẽ làm tăng áp lực lọc của cầu thận [5, 6].
Các nghiên cứu khoa học ghi nhận điều gì?
Nghiên cứu công bố năm 2021 phân tích định lượng thành phần trong 15 lô mẫu dược liệu Asarum heterotropoides F. Schmidt (tế tân) và 44 chế phẩm thuốc đông y thương phẩm [1]. Kết quả kiểm nghiệm cho thấy axit aristolochic I (AA I), axit aristolochic II (AA II) và AA IIIa không phát hiện thấy trong các mẫu tế tân nguyên liệu [1]. Tuy nhiên, các dẫn xuất tương tự gồm aristolactam I (AL I) và AA IVa vẫn xuất hiện trong toàn bộ các mẫu khảo sát với hàm lượng dao động tùy theo loài và xuất xứ địa lý [1]. Nghiên cứu chỉ ra mẫu XX04 từ Liêu Ninh có hàm lượng thấp hơn, song việc tồn tại các dẫn xuất này vẫn tiềm ẩn độc tính thận và gan [1].
Một nghiên cứu năm 2017 sử dụng phương pháp phân tích chuyển hóa LC-MS độ phân giải cao kết hợp thử nghiệm độc tính tế bào in vitro trên dòng tế bào biểu mô thận người HK-2 [2]. Các chuyên gia phát hiện phần lớn các mẫu chiết xuất từ chi Asarum (cả chiết xuất cồn và chiết xuất nước) đều chứa các dẫn xuất tương tự axit aristolochic (AAAs) như AL I, AL IV và 9-methoxy AL IV trên mọi bộ phận của cây [2]. Dù đa phần các dịch chiết không biểu hiện độc tính cấp gây chết tế bào HK-2 ở các liều thử nghiệm, các cơ chế bệnh lý thận và ung thư mạn tính như tạo phức bộ ADN vẫn có thể diễn ra [2].
Nghiên cứu tổng quan năm 2016 về giám sát an toàn thuốc đông y nhấn mạnh rủi ro từ họ thực vật Aristolochiaceae [3]. Báo cáo ghi nhận từ năm 1990 đến 1992 tại Bỉ và Pháp, hơn 100 phụ nữ đã bị xơ hóa thận tiến triển dẫn đến suy thận phải ghép thận hoặc mắc ung thư do dùng sản phẩm thảo dược chứa axit aristolochic [3]. Rễ của cây Asarum heterotropoides chứa hàm lượng axit aristolochic tương đối thấp (dưới 0,5 ppm theo báo cáo này), nhưng toàn cây có thể chứa lượng cao hơn rất nhiều (từ 1 đến 150 ppm) [3]. Sự nhầm lẫn các bộ phận dùng trong quá trình bào chế có thể làm tăng độc tính sản phẩm thành phẩm lên gấp nhiều lần [3].
Báo cáo nghiên cứu năm 2022 khảo sát thiết kế hồi cứu đơn trung tâm trên 111 bệnh nhân đột quỵ cao tuổi sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc tây y và bài thuốc thảo dược [4]. Kết quả ghi nhận có 1 trường hợp tổn thương gan ban đầu và hồi phục sau đó, không quan sát thấy ca tổn thương gan mới do phối hợp thuốc dựa trên thang điểm RUCAM [4]. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cảnh báo người cao tuổi và bệnh nhân đa bệnh lý dùng đồng thời nhiều thuốc (polypharmacy) có nguy cơ cao suy giảm chức năng gan, thận do tương tác thuốc và độc tính tích lũy từ các ancaloit, axit aristolochic [4].
Nghiên cứu tổng quan năm 2021 về các sản phẩm bổ sung trên bệnh nhân thận mạn tính ghi nhận rằng tương tác giữa thảo dược và thuốc tây y có thể làm tăng độc tính hoặc làm mất tác dụng điều trị của thuốc [5]. Nhóm bệnh nhân có tổn thương thận hoặc ghép thận là đối tượng rủi ro cao vì việc can thiệp vào con đường chuyển hóa thuốc có thể dẫn đến suy thận tiến triển hoặc thải ghép [5].
Lợi ích và giới hạn của bằng chứng hiện có
Bằng chứng thực nghiệm khẳng định rõ chi Asarum có chứa các dẫn xuất aristolactam và axit aristolochic có nguy cơ gây độc tế bào thận mạn tính [3, 7, 8]. Các quy định dược điển hiện đại cũng đã đặt giới hạn hàm lượng nghiêm ngặt (dưới 0,001% đối với AA I trong Dược điển Trung Quốc 2020) để đảm bảo biên độ an toàn cho người dùng [1].
Mặc dù vậy, dữ liệu lâm sàng trực tiếp đánh giá tương tác dược động học chéo giữa riêng thổ tế tân với từng nhóm thuốc hạ huyết áp cụ thể trên người vẫn còn hạn chế [2, 5]. Phần lớn các cảnh báo hiện tại được ngoại suy từ cơ chế gây độc thận của nhóm chất aristolactam, dữ liệu in vitro trên tế bào thận người và các báo cáo tương tác đa thuốc tổng quát trên bệnh nhân mắc bệnh lý nền [2, 6, 7].
Hiểu lầm thường gặp
Nhiều người lầm tưởng rằng tế tân chỉ dùng phần rễ và đã qua phơi sấy thì hoàn toàn không có độc tính. Nghiên cứu thực tế cho thấy các dẫn xuất tương tự axit aristolochic như AL I và AA IVa vẫn tồn tại trong các mẫu rễ và thân rễ thương phẩm [3, 7].
Một hiểu lầm khác là thảo dược lành tính nên có thể uống cách thuốc tây 1-2 giờ là an toàn tuyệt đối. Trên thực tế, nếu hoạt chất thảo dược gây độc tế bào thận hoặc cạnh tranh enzym chuyển hóa thì việc giãn cách thời gian uống ngắn không loại bỏ được áp lực tích lũy chất chuyển hóa tại cầu thận [1, 4, 5].
Ai nên thận trọng?
Dựa trên dữ liệu độc tính đã được ghi nhận, các nhóm đối tượng sau cần đặc biệt thận trọng:
- Người mắc bệnh thận mạn tính, người có tiền sử suy giảm chức năng thận hoặc người sau ghép thận [5].
- Bệnh nhân đang sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp hoặc các phác đồ điều trị đa thuốc kéo dài [5, 6].
- Người cao tuổi, do chức năng lọc cầu thận tự nhiên suy giảm theo tuổi tác kết hợp cùng tình trạng dùng nhiều loại thuốc đồng thời [4].
Dữ liệu an toàn của thảo dược họ Aristolochiaceae trên phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và trẻ em hiện chưa có đầy đủ thử nghiệm lâm sàng chuyên biệt [1, 2]. Nhóm đối tượng này không nên tự ý tiếp cận hoặc sử dụng [1, 2].
Cách áp dụng thực tế
Để phòng ngừa rủi ro tương tác bất lợi, người bệnh cần thực hiện các nguyên tắc sau:
- Không tự ý bốc thuốc, sắc uống hoặc mua các chế phẩm chứa tế tân khi đang dùng thuốc điều trị huyết áp hoặc thuốc tác động lên thận [1, 5].
- Khai báo chi tiết cho bác sĩ và dược sĩ lâm sàng về tất cả các loại thuốc y học cổ truyền, thảo dược đang dùng trước khi tiếp nhận đơn thuốc tây y [6].
- Theo dõi định kỳ chức năng thận thông qua các chỉ số xét nghiệm huyết thanh và nước tiểu nếu thuộc nhóm đối tượng nguy cơ phải dùng thuốc kéo dài [1, 6].
- Chỉ sử dụng các chế phẩm thảo dược đã qua kiểm định hàm lượng hoạt chất độc tính đạt chuẩn dược điển và có chỉ định chuyên môn từ bác sĩ y học cổ truyền [3, 8].
Việc phối hợp đông - tây y đòi hỏi sự hiểu biết kỹ lưỡng về thành phần và tương tác hoạt chất [1, 2]. Người bệnh không nên chủ quan tự ý kết hợp thổ tế tân với thuốc điều trị nền mà cần luôn tham vấn ý kiến chuyên gia y tế nhằm bảo vệ an toàn chức năng thận lâu dài [2, 5].



