Nhiều người dùng thảo dược bồi bổ mà quên nguy cơ tương tác với thuốc tây đang uống. Thỏ ty tử (hạt tơ hồng) thường dùng trong dân gian nhằm bổ thận tráng dương hoặc hỗ trợ sinh sản. Khi người bệnh kết hợp thảo dược này với thuốc điều trị nội tiết hoặc các thuốc chuyển hóa qua gan, nguy cơ biến đổi nồng độ thuốc hoàn toàn có thể xảy ra.

Tự ý phối hợp thỏ ty tử cùng liệu pháp hormone hoặc thuốc chuyển hóa qua gan là việc không nên làm. Bằng chứng khoa học về tương tác trực tiếp trên người còn hạn chế, nhưng cơ chế chuyển hóa thuốc cảnh báo khả năng tương tác bất lợi. Người bệnh cần thảo luận trực tiếp với bác sĩ điều trị trước khi dùng thêm bất kỳ chế phẩm nào từ hạt tơ hồng.

Thỏ ty tử và bối cảnh sử dụng phổ biến

Thỏ ty tử là hạt phơi khô của cây tơ hồng, tên khoa học Cuscuta chinensis [1]. Theo dược học cổ truyền, vị thuốc này từng được dùng để hỗ trợ các bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, tổn thương gan, ung thư và lão hóa [1]. Nghiên cứu phân loại thực vật ghi nhận chi Cuscuta có tới 9 loài, trong đó 4 loài được lưu thông thương mại và loài Cuscuta chinensis ghi trong Dược điển Trung Quốc năm 1985 chưa phải loài lưu hành chính yếu lúc bấy giờ [2].

Ngày nay, nhiều người tìm đến thỏ ty tử dạng thuốc thang, trà túi lọc hoặc viên hoàn trôi nổi trên thị trường. Người mắc rối loạn nội tiết, hiếm muộn, hoặc bệnh nhân mạn tính đang dùng thuốc chuyển hóa qua gan thường có tâm lý chuộng dùng thêm thảo dược. Quan niệm "thuốc nam thảo mộc vô hại" khiến nhiều bệnh nhân không thông báo cho bác sĩ điều trị, tiềm ẩn nhiều hệ lụy cho sức khỏe.

Nguy cơ tương tác thuốc qua hệ thống enzym gan

Quá trình chuyển hóa thuốc trong cơ thể chịu sự điều hòa chặt chẽ của các hệ enzym gan, đặc biệt là hệ cytochrome P450 (CYP) [3, 4]. Hệ siêu họ enzym này phân bố chủ yếu ở gan và biểu mô ruột non, chịu trách nhiệm chuyển hóa phần lớn các hóa chất ngoại sinh lẫn tân dược [4, 6]. Trong số hơn 30 đồng enzym phân lập ở người, các enzym chính gánh vác việc chuyển hóa bao gồm họ CYP3A, CYP2D6, CYP1A2 và phân họ CYP2C [6, 7].

Một thuốc hoặc hợp chất tự nhiên có thể làm thay đổi chuyển hóa của thuốc khác nếu tác động như chất ức chế hoặc chất cảm ứng enzym gan [3, 4]. Khi một thảo dược ức chế enzym, nồng độ thuốc đi kèm sẽ tăng cao trong máu, dễ dẫn tới ngộ độc hoặc tác dụng phụ nguy hiểm [4, 6]. Ngược lại, nếu thảo dược cảm ứng tăng hoạt động của enzym, thuốc điều trị sẽ bị đào thải nhanh hơn, dẫn đến giảm nồng độ máu và thất bại điều trị [3, 4]. Mức độ tương tác ở một số trường hợp đủ nghiêm trọng để tạo thành chống chỉ định phối hợp trên lâm sàng [3].

Nhiều loại thảo dược lưu hành tự do không cần kê đơn như tỏi, nhân sâm, bạch quả hay piperine đã được ghi nhận gây tương tác lâm sàng nghiêm trọng khi dùng kèm thuốc kê đơn [4]. Thảo dược chứa hỗn hợp nhiều hoạt chất phức tạp, khiến việc dự đoán tương tác chuyển hóa qua CYP càng thêm rắc rối [4].

Các nghiên cứu tiền lâm sàng về thỏ ty tử

Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng chuyên biệt kiểm tra tương tác giữa thỏ ty tử và các thuốc nội tiết trên người. Các dữ liệu khoa học về đặc tính sinh học của Cuscuta chinensis hiện dừng ở quy mô tế bào và động vật gặm nhấm [1, 2].

Năm 2013, nghiên cứu thực hiện trên dòng tế bào tiền tạo xương chuột MC3T3-E1 để đánh giá dịch chiết nước từ hạt Cuscuta chinensis [1]. Tế bào được gây tổn thương oxy hóa bằng tertiary butyl hydroperoxide (TBHP) [1]. Kết quả cho thấy dịch chiết nước Cuscuta chinensis bảo vệ tế bào xương khỏi bị chết theo nồng độ phụ thuộc [1]. Dịch chiết ức chế tạo gốc oxy hóa phản ứng (ROS), giảm sản sinh malondialdehyde (MDA), đồng thời tăng hoạt tính các enzym superoxide dismutase (SOD), glutathione reductase (GR), glutathione S-transferase (GST) và glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD) [1]. Dịch chiết này cũng giảm giải phóng cytochrome c từ ty thể, tăng biểu hiện các chất chống chết theo chu trình như IDH2, Sirt3, Bcl-2 và giảm biểu hiện Bax, cytochrome c, caspase 3 [1].

Năm 2015, nghiên cứu trên chuột đánh giá khả năng bảo vệ của Cuscuta chinensis chống lại độc tính do thuốc hóa trị cyclophosphamide gây ra [5]. Độc tính của cyclophosphamide phát sinh từ các chất chuyển hóa có hoạt tính như acrolein và phosphoramide mustard [5]. Chuột thí nghiệm được dùng đồng thời dịch chiết Cuscuta chinensis liều 10 mg/kg thể trọng (tiêm màng bụng hàng ngày) liên tục trong 10 ngày cùng liều cyclophosphamide 25 mg/kg thể trọng tiêm màng bụng hàng ngày [5].

Kết quả cho thấy dịch chiết Cuscuta chinensis làm tăng ý nghĩa cân nặng cơ thể và trọng lượng cơ quan (p < 0,01), tăng lượng tế bào tủy xương và hoạt tính alpha-esterase ở chuột dùng cyclophosphamide [5]. Cyclophosphamide làm giảm mạnh hàm lượng GSH trong bàng quang, nhưng dịch chiết thỏ ty tử giúp phục hồi lượng GSH này, đồng thời giảm nitric oxide (NO) bàng quang, giúp ngăn ngừa tổn thương mô [5]. Nồng độ urea, creatinine và bilirubin huyết thanh của nhóm dùng dịch chiết thấp hơn nhóm chỉ dùng cyclophosphamide [5]. Phân tích mô bệnh học bàng quang của nhóm dùng dịch chiết duy trì cấu trúc bình thường, trong khi nhóm dùng cyclophosphamide đơn thuần bị hoại tử mô [5].

Giá trị và giới hạn của bằng chứng hiện có

Các kết quả trên cho thấy thỏ ty tử có hoạt tính chống oxy hóa mạnh, điều hòa các enzym nội sinh liên quan đến chuyển hóa glutathion (GST, GR) và bảo vệ cơ quan khỏi chất độc chuyển hóa [1, 2]. Dù vậy, các nghiên cứu này chỉ tiến hành trên tế bào nuôi cấy của chuột hoặc mô hình chuột tiêm màng bụng với liều lượng thực nghiệm cố định [1, 2].

Chưa có dữ liệu nào đo lường trực tiếp sự thay đổi nồng độ thuốc nội tiết (như estrogen, progesterone, testosterone, thuốc kháng hormone hoặc liệu pháp tuyến giáp) khi uống cùng thỏ ty tử ở cơ thể người. Ngoài ra, chuyển hóa qua hệ vi mô gan chịu tác động từ nhiều yếu tố khác như đa hình di truyền, độ tuổi, tình trạng dinh dưỡng, bệnh gan mắc kèm và các hóa chất nội sinh [6]. Vì vậy, không thể ngoại suy trực tiếp hiệu quả hay độ an toàn từ mô hình động vật sang phác đồ điều trị người bệnh.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thỏ ty tử

Nhiều bệnh nhân tin rằng thảo dược tự nhiên thì an toàn tuyệt đối và có thể uống tùy thích cùng thuốc tây. Đây là sai lầm phổ biến từng dẫn đến nhiều phản ứng bất lợi được y văn ghi nhận đối với các dược liệu không kê đơn [4].

Một số người cho rằng vì thỏ ty tử hỗ trợ chức năng sinh sản trong y học cổ truyền nên sẽ hỗ trợ tốt hơn cho các liệu pháp hormone hiện đại. Thực tế, khi dùng chung hai can thiệp tác động lên cùng hệ trục sinh học hoặc phụ thuộc cùng con đường khử độc ở gan, hiện tượng cạnh tranh chuyển hóa hoặc đối kháng tác dụng hoàn toàn có thể xảy ra mà người dùng không hay biết [3, 4]. Bất kỳ thảo dược nào tác động lên chuyển hóa enzym gan đều tiềm ẩn nguy cơ làm trồi sụt lượng thuốc điều trị trong huyết tương [4, 6].

Ai nên thận trọng khi muốn dùng thỏ ty tử?

Nhóm đối tượng đang sử dụng các liệu pháp hormone thay thế, thuốc tránh thai nội tiết, thuốc ức chế hormone điều trị ung thư cần hết sức cẩn trọng. Bất kỳ sự xáo trộn nồng độ thuốc nào cũng có thể làm mất tác dụng ngừa thai hoặc giảm kiểm soát khối u phụ thuộc hormone [3, 4].

Người đang điều trị các thuốc có khoảng trị liệu hẹp được chuyển hóa mạnh qua gan qua hệ CYP (đặc biệt là CYP3A) không nên tự ý dùng thỏ ty tử [6, 7]. Bệnh nhân suy giảm chức năng gan, người cao tuổi, người mắc bệnh lý chuyển hóa phức tạp cần tránh việc dùng thảo dược không rõ nguồn gốc hoặc chưa chuẩn hóa thành phần loài thực vật [7, 8]. Phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú tuyệt đối không tự ý dùng do thiếu hụt hoàn toàn dữ liệu an toàn lâm sàng trên nhóm đối tượng đặc thù này.

Gợi ý áp dụng thực tế và an toàn

Nếu đang dùng thuốc kê đơn từ bác sĩ, nguyên tắc hàng đầu là tuân thủ phác đồ tân dược hiện hành, không tự ý ngưng hay bổ sung thỏ ty tử.

Khi có mong muốn sử dụng thỏ ty tử dạng bổ trợ, người bệnh cần mang toàn bộ đơn thuốc và chế phẩm thảo dược đến gặp bác sĩ chuyên khoa hoặc dược sĩ lâm sàng để được tư vấn. Chỉ sử dụng chế phẩm thỏ ty tử có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đã kiểm định loài, tránh nhầm lẫn nguồn gốc thảo dược trôi nổi [2]. Tuyệt đối không dùng thỏ ty tử để thay thế các thuốc điều trị nội tiết chính thống đã được chỉ định.

Dùng thảo dược song hành cùng thuốc tây luôn tiềm ẩn rủi ro tương tác dược lý khó lường. Thỏ ty tử là vị thuốc có các hoạt tính sinh học đáng chú ý trong phòng thí nghiệm nhưng chưa đủ thử nghiệm lâm sàng chứng minh an toàn khi ghép cặp cùng thuốc nội tiết. Hãy luôn cởi mở thông báo mọi sản phẩm thảo dược bạn dùng với nhân viên y tế để đảm bảo an toàn tối đa cho quá trình điều trị.