Nhiều người có thói quen hái lá khôi tươi quanh vườn hoặc mua lá khô về tự sắc uống mỗi khi cảm thấy cồn cào, khó chịu đường tiêu hóa. Sự tiện lợi của lá tươi và tính phổ biến của lá khô khiến không ít người băn khoăn: liệu cách dùng nào giúp cơ thể hấp thu hoạt chất tốt hơn mà không gây xót ruột hay kích ứng niêm mạc?
Để dùng đúng, người dùng cần nắm rõ cơ chế hòa tan của các nhóm chất, kiểm soát lượng dùng dựa trên thực nghiệm khoa học, đồng thời chú ý nhiệt độ và thời gian đun nấu nhằm hạn chế giải phóng quá mức các chất dễ gây cồn ruột.
Bản chất các hợp chất trong lá khôi và chi Ardisia
Chi thực vật Ardisia (họ Đơn nem - Myrsinaceae), nhóm thực vật bao gồm các loài thường gọi là khôi, chứa nguồn hợp chất chuyển hóa rất phong phú [1]. Các công trình phân tích thành phần thực vật cho thấy chi này sở hữu ít nhất 111 hợp chất tự nhiên thuộc các nhóm triterpenoid saponin, quinone, phenol, coumarin, depsipeptide vòng và flavonoid [1].
Nghiên cứu hóa thực vật trên các loài thuộc chi này ghi nhận sự xuất hiện của các polyphenol thực vật với hàm lượng dao động từ 21 đến 72 mg đương lượng gallic acid trên mỗi gam dịch chiết dạng rắn [2]. Phân tích khối phổ chỉ rõ sự hiện diện của acid gallic, các dẫn xuất quercetin, bergenin, norbergenin, embelin, ardisenone, ardisiaquinone và ardisianone [2].
Đặc biệt, nhóm saponin loại 13,28-epoxy triterpenoid được phân lập và xác định với 22 biến thể khác nhau trong mẫu nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là hoạt chất ardisiacrispin B [3]. Các hợp chất này mang nhiều đặc tính sinh học nhưng có đặc tính kích ứng màng nhầy tự nhiên nếu dùng sai cách hoặc dùng quá đậm đặc.
Dùng tươi hay dùng khô: Cơ chế chiết xuất và nguy cơ kích ứng
Lá tươi chứa hàm lượng nước tự nhiên cao, cấu trúc màng tế bào còn nguyên vẹn và các enzyme thực vật nội sinh vẫn giữ hoạt tính xúc tác. Khi hãm hoặc đun lá tươi mà không kiểm soát nhiệt lượng, nước nóng có thể hòa tan ồ ạt saponin tự do và các acid hữu cơ thực vật chưa qua biến tính.
Saponin là nhóm chất có tính hoạt động bề mặt, có thể tạo bọt và gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa khi tiếp xúc trực tiếp ở nồng độ cao [4, 8]. Việc sử dụng lá tươi hái trực tiếp còn khiến người dùng khó đong đếm chính xác hàm lượng chất khô dung nạp vào cơ thể.
Lá phơi hoặc sấy khô qua quy trình gia nhiệt thích hợp đã trải qua quá trình mất nước, làm bất hoạt phần lớn các enzyme phân giải nội sinh. Quá trình làm khô giúp thành tế bào thực vật giòn hơn, cho phép nước sôi thẩm thấu từ từ và giải phóng có kiểm soát các hợp chất phenolic quý như flavonoid, gallic acid hay bergenin [5, 6].
Các nghiên cứu khoa học về dịch chiết họ Ardisia
Một nghiên cứu thực nghiệm năm 2002 đánh giá tác dụng bảo vệ tế bào gan chuột trước độc chất benomyl bằng dịch chiết nước đun từ lá khô của loài Ardisia compressa và hoạt chất ardisin tinh khiết tách chiết từ loài này [4]. Kết quả chỉ ra tế bào gan phơi nhiễm với ardisin nồng độ 0,27 mcg/mL đạt tỷ lệ bảo vệ lên tới 94% khi chịu tác động bởi benomyl ở nồng độ 35 mcg/mL [4].
Độc chất benomyl gây tăng malondialdehyde lên 58% và tăng glutathione peroxidase thêm 10%, đồng thời làm sụt giảm 65% lượng chất chống oxy hóa nội sinh glutathione (P < 0,05) [4]. Hoạt chất ardisin và nước hãm từ lá khô đã ức chế hoạt tính xúc tác của enzyme topoisomerase I và II trên các chủng nấm men đột biến Saccharomyces cerevisiae, đồng thời thể hiện năng lực bảo vệ tế bào vượt trội so với chất đối chứng epigallocatechin 3-gallate (EGCG) [4].
Dựa trên nồng độ hiệu quả quy đổi tương đương catechin ghi nhận được từ thử nghiệm này, các nhà nghiên cứu ước tính một người cần tiêu thụ khoảng 1 lít nước trà thảo mộc mỗi ngày, tương ứng tổng lượng nguyên liệu thực vật khô là 10,8 g để đạt được tác dụng chống oxy hóa [4].
Một thử nghiệm khác năm 2011 trên chuột nhắt trắng dòng ICR tiến hành đánh giá chiết xuất rễ Ardisia crispa bằng dung môi hexane (ACRH) bôi ngoài da 2 lần mỗi tuần trong 10 tuần nhằm ức chế sự kích thích khối u da do DMBA và dầu croton gây ra [5]. Nhóm chuột dùng liều thấp 30 mg/kg ghi nhận tỷ lệ mắc u giảm 20%, gánh nặng u giảm xuống mức 1,5 ± 0,50, thể tích khối u đạt 2,49 ± 1,70 cùng thời gian tiềm tàng hình thành u kéo dài hơn nhóm đối chứng mang chất gây ung thư (P < 0,05) [5].
Năm 2010, một phân tích so sánh hoạt tính sinh học in vitro dịch chiết nước từ 6 loài thuộc chi Ardisia gồm A. japonica, A. escallonioides, A. mamillata, A. compressa, A. crenata và A. elliptica cho thấy chiết xuất A. compressa đạt hoạt tính ức chế topoisomerase II mạnh nhất với IC50 = 12 mcg/mL và gây độc tế bào ung thư gan người HepG2 ở IC50 = 117 mcg/mL [2]. Các hợp chất bergenin và embelin trong dịch chiết cũng thể hiện hoạt tính gây độc tế bào HepG2 với IC50 lần lượt là 18 mcM và 120 mcM [2].
Năm 2012, phương pháp phân tích đa biến kết hợp sắc ký khí - khối phổ (GC-MS) trên dịch chiết lá Ardisia elliptica điều chế bằng phương pháp chiết Soxhlet và phân đoạn lỏng - lỏng đã định danh và phân lập thành công các hợp chất có khả năng ức chế ngưng tập tiểu cầu [6]. Năm 2018, nghiên cứu chiết xuất trên Ardisia japonica sử dụng chất hoạt động bề mặt không ion kết hợp ủ ấm ở nhiệt độ 60 độ C trong 10 phút đã tối ưu hóa hiệu suất thu nhận gallic acid, bergenin, quercitrin và embelin [7].
Năm 2022, phân tích trên Ardisia crenata và Ardisia crispa thu thập tại Quý Châu (Trung Quốc) đã định lượng chi tiết saponin tổng (TSC), flavonoid tổng (TFC) và phenolic tổng (TPC), cung cấp dữ liệu về con đường sinh tổng hợp flavonoid của chi thực vật này [8].
Lợi ích ghi nhận và giới hạn của các bằng chứng hiện có
Dữ liệu khoa học cho thấy các hoạt chất tự nhiên từ các loài chi họ lá khôi sở hữu tiềm năng chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế tế bào lạ và điều hòa ngưng tập tiểu cầu [1, 2, 3, 7]. Dịch chiết từ nguyên liệu khô giúp thu nhận ổn định các chất chuyển hóa như polyphenol và bergenin qua phương thức đun sắc [2, 5].
Tuy vậy, phần lớn các công bố khoa học hiện tại chỉ dừng lại ở thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) trên tế bào gan chuột, tế bào ung thư hoặc thử nghiệm bôi ngoài da trên chuột nhắt trắng [2, 3, 5]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên trên cơ thể người về khả năng điều trị loét dạ dày tá tràng của các loài cây này. Các cơ chế can thiệp toàn thân ở người vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu quy mô lớn để xác thực.
Những hiểu lầm thường gặp khi sắc và dùng lá khôi
Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "dược thảo tự nhiên thì uống càng đặc càng nhanh khỏi bệnh". Nước sắc lá quá đặc chứa nồng độ saponin và tanin cao, dễ làm săn se niêm mạc quá mức, gây đầy trướng, buồn nôn hoặc kích thích tăng tiết dịch vị ngược.
Hiểu lầm thứ hai là dùng lá tươi đun sôi sùng sục trong thời gian dài. Nhiệt độ sôi kéo dài dễ làm oxy hóa các polyphenol nhạy cảm với nhiệt, biến đổi cấu trúc các flavonoid quý mà lại giải phóng quá nhiều chất đắng chát khó uống [4, 6].
Những đối tượng cần thận trọng khi sử dụng
Người đang gặp tình trạng viêm trợt dạ dày cấp tính hoặc xuất huyết tiêu hóa cần hết sức thận trọng. Các triterpenoid saponin và dẫn xuất phenolic tự nhiên trong thảo mộc có thể tác động trực tiếp lên vùng niêm mạc đang tổn thương [7, 8].
Do chiết xuất từ lá một số loài thuộc chi này đã được chứng minh có đặc tính ức chế ngưng tập tiểu cầu trên mô hình thực nghiệm [6], người đang dùng thuốc chống đông máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc chuẩn bị phẫu thuật không nên tự ý dùng nước sắc liều cao để tránh nguy cơ xuất huyết.
Chưa có nghiên cứu độc học sinh sản hay tính an toàn trên phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ nhỏ đối với các loài thảo dược này. Dữ liệu hiện có chủ yếu ghi nhận trên nuôi cấy tế bào, mô nấm men và chuột thí nghiệm [2, 3, 5]. Nhóm đối tượng nhạy cảm trên tuyệt đối không tự ý sử dụng.
Hướng dẫn kỹ thuật sắc lá khô để tối ưu hoạt chất
Để đảm bảo hiệu quả trích xuất và độ an toàn cho dạ dày, người dùng nên ưu tiên thảo mộc đã phơi sấy khô đạt chuẩn vệ sinh. Căn cứ theo thực nghiệm tính toán lượng dùng tương đương, mức tiêu thụ dược liệu khô được gợi ý vào khoảng 10,8 g mỗi ngày, nấu cùng lượng nước vừa đủ [4].
Trước khi đun, rửa nhanh lá khô qua nước mát để loại bỏ bụi bẩn. Dùng nồi gốm hoặc thủy tinh chịu nhiệt, tránh nồi kim loại dễ phản ứng với polyphenol. Cho dược liệu vào đun cùng nước sôi nhẹ hoặc ủ ấm, tránh đun trào cuồn cuộn liên tục nhiều giờ nhằm giữ lại vẹn nguyên các hoạt chất nhạy nhiệt [7].
Dung dịch sau khi sắc nên chia thành nhiều ngụm nhỏ uống trong ngày khi còn ấm, không uống nước sắc đã để qua đêm. Người có cơ địa nhạy cảm không nên uống vào lúc bụng hoàn toàn trống rỗng nếu cảm thấy hiện tượng xót ruột.
Người có bệnh lý nền về gan, thận hoặc bệnh tiêu hóa mãn tính cần tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền hoặc chuyên gia y tế trước khi bắt đầu dùng thảo dược dài ngày.


