Cây lim từ lâu đã quen thuộc với người Việt như một loại gỗ quý trong nhóm "tứ thiết" gồm đinh, lim, sến, táu [1]. Gần đây, nhiều thông tin lan truyền cho rằng chiết xuất từ loài cây này có thể tiêu diệt khối u, mở ra hy vọng chữa khỏi bệnh nan y. Liệu cây lim có thực sự sở hữu khả năng kỳ diệu đó hay chỉ là sự suy diễn quá mức từ các thí nghiệm sinh học cơ bản?

Câu trả lời ngắn gọn là hoạt tính kháng ung thư của chiết xuất lim mới chỉ được ghi nhận trên các dòng tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro). Đến nay, chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh dịch chiết hay bài thuốc từ cây lim có thể điều trị ung thư ở người, do đó người dân tuyệt đối không tự ý tìm kiếm hay sắc nước uống.

Nhóm chất cassaine diterpenoid tác động ra sao lên tế bào?

Cây lim, có tên khoa học là Erythrophleum fordii Oliver, thuộc họ Đậu (Leguminosae), phân bố chủ yếu tại Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc [1]. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, thảo dược này từng được dùng để thúc đẩy tuần hoàn máu [1]. Phân tích hóa thực vật cho thấy cây chứa các hợp chất ancaloit cassaine diterpenoid amide, triterpenoid và steroid mang nhiều hoạt tính dược lý [1].

Ở cấp độ tế bào, các diterpenoid loại cassaine thể hiện khả năng tiêu diệt tế bào ác tính thông qua con đường kích hoạt quá trình tự hủy tế bào (apoptosis) [1, 3, 4, 6]. Thay vì để tế bào phân chia vô tổ chức, các hợp chất này can thiệp vào các chuỗi tín hiệu nội bào. Cụ thể, chúng kích hoạt enzyme caspase 3, caspase 9 và gây phân cắt protein PARP (poly [ADP-ribose] polymerase) [4, 6]. Đồng thời, các phân tử này làm gia tăng biểu hiện của protein thúc đẩy tự hủy Bak và làm giảm biểu hiện của protein chống tự hủy Bcl-2 [2]. Khi chuỗi phản ứng này diễn ra, tế bào ung thư mất dần cấu trúc, ngừng tăng sinh và tự co cụm phân rã [2].

Bằng chứng phòng thí nghiệm đối với ung thư phổi và vú

Năm 2017, một nghiên cứu trên vỏ cây Erythrophleum fordii đã phân lập được 4 hợp chất mới gồm 2 cassaine diterpenoid (erythrofordin T và U) cùng 2 cassaine diterpenoid amine (erythroformine A và B), bên cạnh 9 hợp chất đã biết [3]. Khi kiểm tra hoạt tính gây độc tế bào trên 3 dòng tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ gồm A549, NCI-H1975 và NCI-H1229 bằng phép thử MTT, các amin cassaine diterpenoid thể hiện hoạt tính mạnh với giá trị IC50 dao động từ 0,4 đến 5,9 µM [3]. Trong đó, erythroformine B kích hoạt mạnh mẽ quá trình tự hủy ở cả 3 dòng tế bào phổi theo mức độ phụ thuộc vào nồng độ [3].

Đến năm 2018, các nhà khoa học tiếp tục khảo sát hạt cây lim và phân lập 6 cassaine diterpenoid mới cùng 3 chất đã biết [4]. Kết quả thử nghiệm ghi nhận hợp chất số 2 có hoạt tính mạnh nhất trên tế bào ung thư vú MCF-7 và tế bào ung thư phổi A549, với giá trị IC50 lần lượt là 3,66 ± 1,20 µM và 2,87 ± 0,46 µM [4]. Hợp chất này cũng làm giảm đáng kể số lượng cụm khuẩn lạc tế bào ung thư theo liều dùng và kích hoạt quá trình chết rụng trên dòng MCF-7 [4].

Tác động trên tế bào bệnh bạch cầu và tuyến tiền liệt

Đối với bệnh bạch cầu cấp, nghiên cứu công bố năm 2020 trên vỏ thân cây lim Việt Nam phát hiện hoạt chất 3beta-acetyl-nor-erythrophlamide (3AEP) có độc tính tế bào nổi bật nhất trên dòng HL-60 và KG, với IC50 tương ứng là 12,0 ± 1,2 và 18,1 ± 2,7 µM [1]. Hoạt chất 3AEP thúc đẩy tế bào HL-60 tự hủy thông qua kích hoạt caspase 3 và PARP [1]. Phân tích mô phỏng gắn kết phân tử (molecular docking in silico) cho thấy 3AEP có khả năng liên kết vào vị trí dị lập thể của procaspase-3 với năng lượng liên kết -7,51 kcal/mol và vị trí hoạt động của PARP-1 với mức năng lượng -9,63 kcal/mol [1].

Năm 2021, nhóm tác giả tiếp tục phân lập các dẫn xuất erythrofordin A-C, pseudo-erythrosuamin và erythrofordin U từ lá cây lim Việt Nam [2]. Thử nghiệm cho thấy các chất này gây độc tế bào phụ thuộc nồng độ trên dòng HL-60 và KG với IC50 từ 15,2 ± 1,5 đến 42,2 ± 3,6 µM [2]. Trong đó, erythrofordin B kích hoạt caspase 3, caspase 9, phân cắt PARP, tăng biểu hiện Bak và hạ thấp Bcl-2 trên tế bào HL-60 [2]. Kết quả mô phỏng gắn kết in silico chỉ ra erythrofordin B gắn vào vị trí procaspase-3 và PARP-1 với năng lượng lần lượt là -7,36 và -10,76 kcal/mol [2].

Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2014 ghi nhận hai dimer mới là erythrophlesin H và I [5]. Phép thử MTT chỉ ra erythrophlesin H gây độc tế bào mạnh nhất trên dòng ung thư tuyến tiền liệt PC-3 và kích hoạt quá trình tự hủy theo liều lượng, được xác nhận qua kỹ thuật nhuộm huỳnh quang acridine orange và annexin V-FITC/PI [5].

Phổ ức chế rộng trên nhiều dòng tế bào ung thư khác

Trước đó, các công bố khoa học từ năm 2006, 2010 và 2011 cũng nhiều lần khẳng định hoạt tính ức chế tế bào của nhiều bộ phận trên cây lim [2, 7, 8]. Nghiên cứu năm 2006 trên vỏ cây phát hiện 6 cassaine diterpenoid amide mới cùng 2 chất khung tương tự, thể hiện hoạt tính gây độc tế bào chọn lọc (IC50 < 10 µM) trên hàng loạt dòng tế bào người gồm A2780, KB, Bel-7402, BGC-823, MCF-7, HCT-8, Hela, PC-3M, A549 và Ketr3 [6].

Năm 2010, nghiên cứu lá cây lim ghi nhận 13 hợp chất, trong đó các dimer cassaine diterpenoid-diterpenoid amide ký hiệu 1 và 3-5 thể hiện độc tính tế bào chọn lọc với IC50 dưới 10 µM trên các dòng ung thư HCT-8, Bel-7402, BGC-823, A549 và A2780 [7]. Năm 2011, nghiên cứu dịch chiết cồn của lá lim cũng phân lập hai saponin triterpene loại oleanane cùng 5 diterpenoid cassaine, trong đó các hợp chất số 5-7 ức chế mạnh 5 dòng tế bào ung thư người với IC50 từ 1,51 đến 8,68 µM [8].

Khoảng cách rất lớn giữa ống nghiệm và cơ thể người

Mặc dù các số liệu IC50 và cơ chế tự hủy tế bào rất ấn tượng, toàn bộ dữ liệu hiện có đều dừng lại ở thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) trên các tế bào đơn lẻ [1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8]. Giới hạn lớn nhất của thử nghiệm in vitro là môi trường nuôi cấy không phản ánh được sự phức tạp của cơ thể sống. Một chất có thể tiêu diệt tế bào ung thư dễ dàng khi nhỏ trực tiếp vào đĩa nuôi cấy, nhưng khi đi vào cơ thể người, nó phải trải qua quá trình hấp thu qua đường tiêu hóa, chuyển hóa tại gan và đào thải qua thận.

Hơn nữa, nhiều chất có hoạt tính ức chế tế bào ác tính mạnh trong phòng thí nghiệm cũng đồng thời gây độc chết người đối với tế bào lành. Hiện tại hoàn toàn chưa có thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật sống cũng như thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư để đánh giá độ an toàn, sinh khả dụng hay hiệu quả thực tế của các diterpenoid từ cây lim. Do đó, việc coi chiết xuất lim là thuốc kháng ung thư ở thời điểm này là hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học.

Những hiểu lầm nguy hiểm và nhóm đối tượng cần cảnh giác

Hiểu lầm phổ biến nhất hiện nay là đồng nhất "hoạt tính trong nghiên cứu" với "bài thuốc dân gian uống vào là khỏi". Người bệnh thường tin rằng đun lá, vỏ hoặc hạt lim lấy nước uống có thể thay thế phác đồ điều trị của bệnh viện. Đây là nhận thức cực kỳ nguy hại. Cây lim chứa nhiều ancaloit có dược tính rất mạnh, có thể gây ngộ độc gan, suy thận hoặc tổn thương tim mạch nghiêm trọng nếu dùng tùy tiện theo cách thô sơ.

Tất cả người dân, đặc biệt là bệnh nhân đang điều trị ung thư, người mắc bệnh gan, thận mạn tính, người cao tuổi, phụ nữ có thai và trẻ em tuyệt đối không tự ý mua và dùng các chế phẩm chưa được kiểm duyệt từ cây lim. Việc tự ý sử dụng thảo dược chứa độc tính có thể gây tương tác nguy hiểm với thuốc hóa trị, làm chậm trễ thời gian vàng can thiệp y khoa và đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.

Khuyến nghị áp dụng thực tế cho người bệnh

Cho đến khi các thử nghiệm lâm sàng chuyên sâu được thực hiện và cơ quan y tế cấp phép, dịch chiết cây lim chỉ có giá trị tham khảo trong định hướng nghiên cứu phát triển thuốc mới. Người bệnh và gia đình không nên tìm mua vỏ, lá, rễ hay hạt lim để tự điều chế thuốc tại nhà. Khi phát hiện các dấu hiệu bất thường về sức khỏe hoặc đã được chẩn đoán ung thư, việc tuân thủ phác đồ chuẩn y khoa như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị hoặc liệu pháp nhắm trúng đích là con đường an toàn và hiệu quả nhất. Mọi ý định sử dụng thêm bất kỳ loại thảo dược bổ trợ nào đều phải được thông qua và có sự đồng ý trực tiếp của bác sĩ chuyên khoa điều trị.

Tóm lại, cây lim chứa nhiều hợp chất diterpenoid có tiềm năng sinh học độc đáo trên đĩa cấy tế bào ung thư [1, 4, 6]. Tuy nhiên, từ phòng thí nghiệm tới viên thuốc điều trị là hành trình dài cần nhiều thử nghiệm khắt khe. Người bệnh cần giữ thái độ tỉnh táo, dựa vào chứng cứ khoa học chính thống và tránh các bài thuốc truyền miệng nguy hiểm để bảo vệ sức khỏe của bản thân.