Nhiều người mắc bệnh thận mạn tính thường tìm kiếm các bài thuốc dân gian để cải thiện chức năng thận hoặc giải độc cơ thể. Trong số các vị thuốc Đông y cổ truyền, Tiêu Thạch (bản chất hóa học chính là kali nitrat - $KNO_3$) đôi khi được nhắc tới trong các toa thuốc tán sỏi, thông tiện. Tuy nhiên, việc tự ý bổ sung các dược liệu này tiềm ẩn hiểm họa khôn lường đối với tính mạng của người suy giảm chức năng thận.

Người bị bệnh thận mạn tính hoặc suy thận không nên tùy tiện sử dụng các bài thuốc chứa Tiêu Thạch. Bản chất của loại khoáng vật này giải phóng lượng lớn ion kali và gốc nitrate vào máu, trong khi cơ quan bài tiết duy nhất đảm nhận cân bằng hai chất này chính là thận. Khi chức năng lọc suy giảm, việc nạp một lượng lớn các chất này sẽ trực tiếp dẫn đến rối loạn điện giải nặng nề và tăng nguy cơ nhiễm độc nitrate [1, 3].

Cơ chế giữ kali và nitrate khi thận suy giảm chức năng

Thận đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát cân bằng nồng độ kali nội môi của cơ thể [1]. Khi chức năng thận suy yếu, khả năng đào thải kali qua nước tiểu bắt đầu suy giảm nhanh chóng, khiến người bệnh thận mạn giai đoạn muộn hoặc suy thận giai đoạn cuối phải đối mặt với nguy cơ tăng kali máu rất phổ biến [1, 3]. Tình trạng này có thể kéo theo hàng loạt biến cố tim mạch bất lợi đe dọa trực tiếp đến tính mạng [1].

Bên cạnh gánh nặng kali, các hợp chất chứa nitrate vô cơ cũng là thách thức lớn đối với quá trình bài tiết. Ở người bệnh thận mạn tính đang chạy thận nhân tạo, nồng độ nitrate trong huyết tương sau khi hấp thụ chất giàu nitrate cao hơn đáng kể so với người khỏe mạnh bình thường [1]. Khả năng thanh thải suy giảm kéo dài thời gian tồn lưu của các dẫn xuất nitrate trong hệ tuần hoàn, gây tăng nồng độ chất chuyển hóa và dễ gây ngộ độc hơn so với người có chức năng thận nguyên vẹn [1].

Nguy cơ tăng kali máu đe dọa tim mạch

Tăng kali máu là một trong những biến chứng cấp cứu nguy hiểm nhất ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận [1, 3]. Khi nồng độ kali trong máu vượt ngưỡng an toàn, người bệnh có thể đối mặt với rối loạn nhịp tim ác tính, ngưng tim và tử vong [6, 8]. Các tài liệu y khoa ghi nhận việc dung nạp một lượng lớn muối kali ngoại sinh (chẳng hạn trường hợp nạp 21 g muối thay thế chứa 53% kali) có thể gây tăng kali máu nghiêm trọng dẫn tới ngừng tim tức thì [2].

Ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn tiến triển, cả hai tình trạng tăng kali máu lẫn hạ kali máu quá mức đều liên quan mật thiết tới gia tăng tỷ lệ tử vong [3]. Một nghiên cứu can thiệp theo dõi lượng kali hấp thu ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo đã chỉ ra rằng, việc tăng dung nạp kali làm gia tăng tỷ lệ tử vong ngay cả khi đã hiệu chỉnh nồng độ kali huyết thanh [3]. Sự tích tụ không kiểm soát của chất điện giải này khi dùng dược chất chứa kali vô cơ tạo áp lực khổng lồ lên cơ tim đang bị tổn thương [1, 8].

Các bằng chứng khoa học về chuyển hóa nitrate và kali

Một nghiên cứu mù đơn, ngẫu nhiên có đối chứng bắt chéo công bố năm 2022 đã so sánh động học của nitrate và nitrite giữa người bệnh thận mạn chạy thận nhân tạo mạn tính và người tình nguyện khỏe mạnh [1]. Nghiên cứu sử dụng 70 mL nước củ dền đậm đặc chứa hàm lượng kali tương đối cao (850 mg/70 mL) và giàu nitrate [1]. Kết quả cho thấy sau khi dùng liều duy nhất, nồng độ nitrate trong huyết tương của nhóm chạy thận nhân tạo cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng khỏe mạnh [1]. Tuy liều duy nhất được dung nạp tốt trong điều kiện kiểm soát ngặt nghèo của phiên lọc máu, các tác giả lưu ý rằng stress oxy hóa tăng cao ở bệnh nhân chạy thận có thể triệt tiêu việc gia tăng nitric oxide (NO), đồng thời nhấn mạnh cần nghiên cứu dài hạn trước khi xác định bất kỳ lợi ích lâm sàng nào [1].

Về mặt xử trí rối loạn kali, nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu năm 2018 trên 114 bệnh nhân suy thận giai đoạn 4, 5 hoặc suy thận giai đoạn cuối có nồng độ kali huyết thanh trên 5 mEq/L đã xem xét hiệu quả của thuốc trao đổi ion natri polystyrene sulfonat (SPS) [4]. Kết quả cho thấy liều 30 g SPS đường uống pha trong sorbitol 33% giúp giảm trung vị nồng độ kali là 0,8 mEq/L sau 24 giờ [4]. Dù thuốc giúp hạ nồng độ kali cấp thời, tác dụng phụ đường tiêu hóa vẫn xảy ra ở 5% số bệnh nhân trong vòng 30 ngày, cho thấy việc xử lý lượng kali dư thừa tích tụ trong cơ thể người bệnh thận là quá trình phức tạp và tiềm ẩn rủi ro y khoa [4].

Mặt khác, đối với người mắc bệnh thận mạn từ giai đoạn 2 đến giai đoạn 4 chưa phải chạy thận, nghiên cứu đoàn hệ MDRD (Modification of Diet in Renal Disease) công bố năm 2018 theo dõi trên 812 người tham gia cho thấy bức tranh đa chiều về chuyển hóa [5]. Trong thời gian theo dõi trung vị 6,1 năm đối với suy thận và 19,2 năm đối với tử vong do mọi nguyên nhân, mức bài tiết kali niệu ban đầu trung bình đạt 2,39 ± 0,89 g/ngày [5]. Khi bài tiết kali niệu tăng thêm 1 độ lệch chuẩn (SD), tỷ số nguy cơ đã hiệu chỉnh đối với suy thận là 0,95 (95% CI: 0,87-1,04) và tử vong do mọi nguyên nhân là 0,83 (95% CI: 0,74-0,94) [5]. Điều này phản ánh chế độ ăn cân bằng có nguồn gốc tự nhiên ở bệnh nhân giai đoạn sớm có thể có mối tương quan khác biệt, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dùng lượng bài tiết qua nước tiểu để ước tính chế độ ăn và được thực hiện chủ yếu trên nhóm dân số trẻ, không mắc đái tháo đường [5].

Nghiên cứu ONTARGET và TRANSCEND trên 28.879 người lớn từ 55 tuổi trở lên có nguy cơ tim mạch cao với thời gian theo dõi trung vị 56 tháng cũng ghi nhận bài tiết kali niệu cao hơn có liên quan đến việc giảm tỷ lệ biến cố bất lợi trên thận [6]. So với mức bài tiết thấp nhất (trung vị 1,7 g/ngày), mức bài tiết trung bình (2,1 g/ngày) và cao (2,7 g/ngày) lần lượt giảm nguy cơ biến cố thận chính với tỷ số chênh OR 0,88 và OR 0,74 [6]. Tuy nhiên, các tác giả nhấn mạnh đây là nghiên cứu quan sát và cần xác minh thêm xem kết quả này có đúng ở người bệnh thận mạn hay không [6].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng dược liệu khoáng chất

Một sai lầm rất phổ biến là quan niệm các bài thuốc thảo mộc hay khoáng vật tự nhiên luôn lành tính, không gây hại cho thận. Tiêu Thạch thực chất là hợp chất vô cơ cung cấp nồng độ ion tự do đậm đặc ngay sau khi uống. Khác với nguồn kali hữu cơ từ rau củ được hấp thu chậm kèm chất xơ, việc dung nạp muối vô cơ làm tăng đột ngột áp lực thẩm thấu và nồng độ chất điện giải trong tuần hoàn [1, 6].

Nhiều người bệnh thận mạn tự ý áp dụng chế độ thải độc bằng các phương thuốc truyền miệng mà không tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa thận. Bất kỳ sự xáo trộn nào về điện giải do bổ sung khoáng chất không kiểm soát đều có thể đẩy người bệnh từ giai đoạn bảo tồn sang suy thận cấp tính hoặc rối loạn dẫn truyền tim không thể hồi phục [1, 8].

Đối tượng cần tuyệt đối thận trọng

Những người đã được chẩn đoán mắc bệnh thận mạn tính giai đoạn 3, 4, suy thận giai đoạn cuối hoặc đang phải chạy thận nhân tạo định kỳ tuyệt đối không tự ý sử dụng các bài thuốc chứa Tiêu Thạch hoặc các nguồn muối kali, nitrate chưa qua chỉ định y khoa [1, 3, 8].

Người bệnh thận đang sử dụng các nhóm thuốc ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone (thuốc điều trị tăng huyết áp hoặc bảo vệ thận) cũng thuộc nhóm rủi ro cao nhất [6, 8]. Nhóm thuốc này vốn đã giữ kali trong máu, nếu cộng thêm nguồn kali giải phóng từ dược liệu sẽ khiến nồng độ kali huyết thanh tăng vọt nguy hiểm [6, 8].

Khuyến nghị áp dụng an toàn trong thực tế

Người mắc bệnh thận giai đoạn tiến triển cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn hạn chế kali theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa [3]. Cần tránh xa các sản phẩm muối thay thế giàu kali clorid hay các chất bổ sung chứa nitrate nồng độ cao [1, 6]. Thậm chí trong nông nghiệp, các nhà nghiên cứu đã phải tìm cách giảm 53% lượng kali trong dưa lưới trồng thủy canh nhằm mục đích phục vụ cho người mắc bệnh thận mạn [7].

Thay vì tin vào các bài thuốc truyền miệng chưa được kiểm chứng, bệnh nhân thận mạn cần được xét nghiệm định kỳ nồng độ kali huyết thanh và độ lọc cầu thận [6, 8]. Khi phát hiện triệu chứng hồi hộp, đánh trống ngực, tê bì chân tay hoặc mệt lỏi cơ bất thường, người bệnh cần tới ngay cơ sở y tế để được tầm soát điện giải và xử trí kịp thời [4].

Tóm lại, người suy thận không nên sử dụng bài thuốc chứa Tiêu Thạch do nguy cơ tích tụ kali và nitrate dẫn đến rối loạn nhịp tim và ngộ độc chuyển hóa [1, 6]. Việc quản lý dinh dưỡng và dược liệu cho bệnh nhân suy thận đòi hỏi tính chuẩn xác khoa học và theo dõi chặt chẽ từ bác sĩ điều trị [3].