Nhiều người thức dậy muộn, vội vã đi làm nên nhịn ăn sáng và coi đó là cách giảm cân tự nhiên. Một số khác lại chọn chế độ nhịn ăn gián đoạn 16:8 bằng cách bỏ bữa sáng có chủ đích để gom toàn bộ lượng thức ăn vào khung giờ trưa và tối.

Thoạt nhìn, cả hai thói quen này đều dẫn tới việc không nạp năng lượng vào đầu ngày. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chuyển hóa, nhịn ăn có kiểm soát khung thời gian và bỏ bữa sáng tùy hứng tạo ra các phản ứng sinh học hoàn toàn khác nhau [1].

Bỏ bữa sáng ngẫu hứng khác gì nhịn ăn 16:8?

Điểm cốt lõi phân biệt hai trạng thái này nằm ở tính kỷ luật của khung thời gian ăn uống và nhịp sinh học cơ thể. Nhịn ăn gián đoạn dạng giới hạn thời gian ăn (TRF) yêu cầu toàn bộ lượng calo trong ngày phải nạp vào trong một khoảng thời gian nhất định, thường dưới 12 giờ hoặc phổ biến là 8 giờ [1]. Người thực hiện duy trì khung giờ này đều đặn hàng ngày, tạo ra một chu kỳ nhịn ăn kéo dài và ổn định cho hệ tiêu hóa [1].

Ngược lại, bỏ bữa sáng truyền thống thường diễn ra thất thường, ngẫu hứng do bận rộn hoặc thiếu kế hoạch. Khoa học chứng minh các bữa ăn thất thường, đặc biệt là việc bỏ bữa sáng không theo chu kỳ cố định, luôn mang lại các hậu quả chuyển hóa bất lợi rõ rệt [1].

Ngoài ra, ở con người, một thành phần quan trọng tạo nên lợi ích chuyển hóa của phương pháp giới hạn thời gian ăn chính là sự cắt giảm tổng lượng calo nạp vào [1]. Khi người ta bỏ ăn sáng tùy hứng, họ không kiểm soát tổng năng lượng và thường có xu hướng ăn bù mất kiểm soát vào các bữa sau [1, 2].

Cơ chế đồng hồ sinh học kiểm soát bữa ăn

Đồng hồ sinh học trung tâm trong não bộ kiểm soát các biến đổi theo thời gian trong ngày đối với phản ứng sau bữa ăn [1]. Cơ thể có phản ứng đường huyết thấp hơn nhưng lại có phản ứng tạo nhiệt và cảm giác no cao hơn rõ rệt đối với bữa ăn diễn ra ngay sau khi thức dậy so với các thời điểm khác [1].

Chính vì vậy, các nghiên cứu chỉ ra rằng việc nạp một tỷ lệ calo đáng kể, đặc biệt là tinh bột (carbohydrate), vào bữa sáng mang lại lợi ích lâu dài cho việc kiểm soát béo phì và hội chứng chuyển hóa so với việc ăn cùng lượng calo đó vào bữa tối [1]. Khi bỏ bữa sáng hoặc ăn tối muộn, kết quả chuyển hóa thường theo chiều hướng xấu [1].

Môi trường xung quanh tác động đến sự biểu hiện của các gen thông qua ánh sáng và thời điểm nạp thức ăn, giúp đồng bộ hóa hệ thống sinh học [2]. Khi khoảng thời gian nhịn ăn sau giấc ngủ bị kéo dài quá mức do bỏ ăn sáng tùy tiện, chu kỳ sinh học có thể bị lệch pha, gây xáo trộn các gen điều hòa chuyển hóa mỡ và đường [2].

Nghiên cứu trên tế bào mỡ 3T3-L1 chỉ ra rằng việc ngắt quãng chu kỳ nạp dưỡng chất mô phỏng bỏ bữa sáng làm gián đoạn sự biểu hiện theo chu kỳ của protein đồng hồ sinh học BMAL1 [3]. Sự xáo trộn này kích thích gia tăng biểu hiện của các protein tạo mỡ như acid béo synthase và PPAR-gamma, từ đó làm tăng tổng hợp mỡ mới và tích tụ mỡ tế bào khi tiếp xúc lại với dinh dưỡng [3].

Bằng chứng từ các thử nghiệm trên người

Các nghiên cứu lâm sàng trên người đưa ra những dữ liệu phong phú nhưng cũng còn nhiều điểm chưa đồng nhất về việc nhịn ăn kéo dài. Trong một thử nghiệm của Halberg và cộng sự, 8 đối tượng khỏe mạnh đã nhịn ăn 20 giờ mỗi ngày (từ 22 giờ đêm hôm trước đến 18 giờ chiều hôm sau) cách ngày trong vòng 15 ngày [4]. Nghiên cứu này cho phép uống nước trắng khi nhịn nhưng đối tượng phải bỏ bữa sáng [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ hấp thu đường qua trung gian insulin tăng lên đáng kể, tương đương với sự cải thiện độ nhạy insulin toàn thân [4].

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu tương tự do Soeters và đồng sự tiến hành, 8 người khỏe mạnh cũng nhịn ăn 20 giờ cách ngày trong 2 tuần rồi quay về chế độ ăn chuẩn trong 2 tuần [4]. Trái ngược với phát hiện của Halberg, nghiên cứu của Soeters lại không ghi nhận bất kỳ sự cải thiện nào về độ nhạy insulin hay chuyển hóa chất béo và protein [4].

Tại một nghiên cứu chéo ngẫu nhiên khác do Stote và cộng sự thực hiện trên 21 người khỏe mạnh (với giai đoạn nghỉ đào thải 11 tuần giữa 2 đợt can thiệp), các tác giả đã so sánh người ăn 3 bữa thông thường với người chỉ ăn 1 bữa duy nhất trong ngày nạp hết thức ăn trong vòng 4 giờ buổi tối [4]. Nhóm chỉ ăn 1 bữa tối đã giảm cân nặng và khối lượng mỡ cơ thể, nhưng lại bị tăng huyết áp tâm thu và tâm trương đáng kể [4].

Các tác giả nhận định rằng việc dồn thức ăn vào một khoảng thời gian quá ngắn có thể gây cảm giác no ức chế quá mức, đồng thời bỏ bữa sáng có thể gây hại cho quá trình trao đổi chất [4]. Việc bỏ bữa sáng kéo dài có thể kích thích rối loạn chuyển hóa và làm tăng tiêu hao năng lượng trong 24 giờ [4].

Về mặt dịch tễ học, một tổng quan hệ thống năm 2021 ở lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy việc bỏ ăn sáng từ 5 ngày mỗi tuần trở lên hoặc bỏ hàng ngày có mối liên quan thuận chiều với nguy cơ thừa cân, béo phì và gia tăng chỉ số khối cơ thể (BMI) [2]. Tại Mỹ và châu Âu, có tới 10-30% trẻ em và thanh thiếu niên thường xuyên bỏ bữa sáng, trong khi tỷ lệ này ở nhóm thanh niên 20-29 tuổi tại Nhật Bản là 28,2% [5]. Nhiều nghiên cứu quan sát chỉ ra bỏ bữa sáng làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường típ 2 và bệnh mạch vành [5].

Dữ liệu từ các nghiên cứu trên động vật

Các thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật làm sáng tỏ sự khác nhau giữa việc chủ động lùi bữa ăn và sự thụ động của lối sống. Trong nghiên cứu năm 2021 trên 192 chuột đực 8 tuần tuổi giống C57BL/6J ăn chế độ giàu chất béo, các nhà khoa học đã so sánh việc cho ăn không hạn chế với chế độ nhịn ăn giới hạn 10 giờ [6]. Chuột được chia thành nhóm ăn sớm ngay khi tắt đèn và nhóm ăn muộn lùi lại 4 giờ sau khi tắt đèn (mô phỏng bỏ bữa sáng ở người) trong 8 tuần [6].

Kết quả chỉ ra cả hai nhóm nhịn ăn giới hạn thời gian đều giảm cân và giảm khối lượng mỡ so với nhóm ăn tự do, mặc dù nhóm ăn sớm giảm cân tốt hơn nhóm ăn muộn [6]. Cả hai nhóm đều cải thiện khả năng dung nạp đường và được bảo vệ khỏi tình trạng gan nhiễm mỡ do chế độ ăn nhiều chất béo [6]. Tuy nhiên, nhóm ăn muộn bị chậm pha nhịp sinh học của các gen gan như Bmal1, Cry1, Per2, Nampt hay Sirt1 [6].

Một nghiên cứu khác năm 2018 trên chuột cho thấy lùi bữa ăn đầu tiên 6 giờ trong giai đoạn hoạt động làm tăng trọng lượng cơ thể, tăng tổng hợp mỡ và chậm biểu hiện gen đồng hồ ở gan [5]. Nhưng nếu chỉ lùi 2 giờ và giới hạn ăn trong 8 giờ thì chuột lại cải thiện được tình trạng béo phì [5].

Đặc biệt, một nghiên cứu công bố năm 2024 chỉ ra rằng khi kết hợp lối sống thụ động, ít vận động với việc bỏ bữa sáng (lùi thời gian ăn 4 giờ) trên chuột ăn chế độ nhiều mỡ vừa phải trong 11 ngày, sự tích tụ mỡ nội tạng đã diễn ra nghiêm trọng [7]. Mức biểu hiện gen đồng hồ và gen tạo mỡ ở gan và mô mỡ bị xáo trộn, nồng độ insulin huyết thanh cũng thay đổi [7]. Điều này nhấn mạnh việc ăn uống sai giờ giấc trên một cơ thể lười vận động sẽ đẩy nhanh tốc độ tích tụ mỡ nội tạng [7].

Lợi ích, giới hạn và hiểu lầm phổ biến

Một hiểu lầm rất tai hại là xem nhịn ăn gián đoạn 16:8 và thói quen bỏ bữa sáng bừa bãi là một [1]. Nhịn ăn gián đoạn là một khuôn khổ có tính toán về thời gian, đảm bảo cơ thể có quãng nghỉ tiêu hóa nhất quán và hỗ trợ kiểm soát calo [1]. Ngược lại, bỏ ăn sáng vô tội vạ là sự ngắt quãng thất thường, thường đi kèm với việc ăn đêm muộn, gây rối loạn nhịp sinh học chuyển hóa [1].

Mặc dù việc lùi bữa ăn sáng có kiểm soát giúp một số người dễ tuân thủ hơn so với việc bỏ bữa tối [8], nhưng bỏ bữa sáng vẫn đem lại những rủi ro nhất định cho đồng hồ sinh học gan [6]. Nghiên cứu chỉ ra việc phân bổ năng lượng quá nhiều vào bữa tối hoặc ăn sát giờ ngủ không mang lại hiệu quả chuyển hóa tối ưu bằng việc ăn sớm [1].

Hơn nữa, nhiều dữ liệu sâu về cơ chế gen chuyển hóa hiện nay mới chỉ được ghi nhận trên mô hình tế bào và động vật gặm nhấm, chưa thể ngoại suy hoàn toàn nguyên vẹn sang cơ thể người [3, 7].

Ai nên thận trọng?

Dù ở người trưởng thành, việc áp dụng nhịn ăn gián đoạn bằng cách bỏ bữa sáng đôi khi có tỷ lệ tuân thủ cao hơn nhịn bữa trưa hay bữa tối [8], các can thiệp này cần hết sức thận trọng trước khi áp dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên [8].

Bỏ bữa sáng ở học sinh có liên quan trực tiếp đến suy giảm khả năng học tập, làm tăng nguy cơ béo phì và hội chứng chuyển hóa [3, 4]. Người có huyết áp không ổn định cũng cần lưu ý vì việc dồn thức ăn vào 1 bữa duy nhất trong ngày có thể làm tăng huyết áp tâm thu và tâm trương [4].

Những người ít vận động thể lực nếu tự ý bỏ bữa sáng ngẫu hứng có nguy cơ cao bị tích tụ mỡ nội tạng nghiêm trọng và kháng insulin [7]. Bệnh nhân đái tháo đường, người đang điều trị bệnh mạn tính hay phụ nữ có thai cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng bất kỳ khung giờ nhịn ăn nào.

Gợi ý áp dụng nhịp ăn uống khoa học

Để áp dụng nhịn ăn có kiểm soát mà không gây hại cho sức khỏe, cần lưu ý:

  • Cố định khung giờ nạp thức ăn: Hãy chọn khung thời gian ăn cố định trong ngày (ví dụ 8 giờ ăn, 16 giờ nhịn) và thực hiện nhất quán hàng ngày, tránh việc hôm ăn sớm, hôm ăn muộn làm rối loạn nhịp sinh học [1].
  • Không dồn toàn bộ lượng thức ăn vào ban đêm: Cố gắng kết thúc bữa ăn cuối cùng trong ngày cách xa giờ đi ngủ, tránh ăn tối quá muộn vì cơ thể xử lý đường và năng lượng kém hơn về đêm [1].
  • Tăng cường vận động: Duy trì hoạt động thể chất đều đặn mỗi ngày, tránh lối sống tĩnh tại, bởi tình trạng ít vận động kết hợp với việc ăn muộn sẽ làm mỡ nội tạng tăng nhanh chóng [7].
  • Lắng nghe cơ thể: Trong thời gian nhịn ăn, hãy uống đủ nước trắng [4]. Nếu xuất hiện dấu hiệu hạ đường huyết quá mức, mệt mỏi hay tăng huyết áp, cần dừng chế độ nhịn ăn và tham vấn chuyên gia dinh dưỡng.

Nhịn ăn gián đoạn 16:8 là một chiến lược dinh dưỡng có kế hoạch nhằm kiểm soát calo và thời gian, hoàn toàn khác với việc bỏ bữa sáng tùy tiện do lười biếng hay bận rộn. Hiểu đúng nhịp sinh học cơ thể và duy trì lối sống vận động chính là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe chuyển hóa bền vững.