Nhiều người truyền tai nhau dùng lôi công đằng (Tripterygium wilfordii Hook. f.) để tự chữa các bệnh viêm khớp hay rối loạn miễn dịch. Trong dân gian, người ta thường cạo bỏ lớp vỏ ngoài của rễ vì cho rằng chỉ cần loại bỏ vỏ là đã khử sạch độc tính. Tuy nhiên, hành động tự chế biến và sử dụng chiết xuất thô từ loại rễ cây này tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cấp tính đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Sự thật là việc tự cạo vỏ không hề loại bỏ được hết độc chất nguy hiểm của cây lôi công đằng. Rễ cây dù đã cạo vỏ vẫn chứa hàm lượng lớn các diterpene và triterpene kịch độc, trong đó khoảng cách giữa liều phát huy tác dụng và liều gây ngộ độc cực kỳ mong manh [1]. Khi đun sắc hoặc ngâm rượu thủ công, hoạt chất độc hại hòa tan trực tiếp vào dịch chiết mà không thể định lượng, dễ dàng dẫn đến hủy hoại tế bào gan, suy thận cấp và tổn thương đa cơ quan [1, 7].
Độc tố phân bố thế nào giữa các bộ phận của cây?
Một quan niệm sai lầm phổ biến là toàn bộ chất độc chỉ tập trung ở lớp vỏ ngoài rễ cây lôi công đằng. Thực tế các phân tích sinh hóa cho thấy nhóm hợp chất terpenoid có hoạt tính sinh học mạnh đồng thời cũng là nguồn gốc độc tính chính của cây [2, 7]. Những hợp chất này phân bố rộng khắp các mô thực vật chứ không hề biến mất khi cạo vỏ [2].
Nghiên cứu định lượng năm 2007 về năm hợp chất terpenoid trên các bộ phận của cây cho thấy rễ non chứa nồng độ triptolide, tripchlorolide, demethylzeylasteral và wilforlide B cao hơn bất kỳ bộ phận nào khác [2]. Trong khi đó, vỏ rễ chủ yếu chứa nồng độ wilforlide A cao nhất, tiếp theo là thân và cành non [2]. Điều này chứng minh phần thịt rễ sau khi cạo vỏ vẫn tích tụ lượng lớn triptolide – thành phần có độc tính mạnh nhất của cây [6, 7].
Nghiên cứu năm 2016 phân tích rễ và vỏ rễ lôi công đằng qua phương pháp chiết siêu âm với ethyl acetate và sắc ký lỏng HPLC-PDA [3]. Kết quả cho thấy hàm lượng triptolide dao động ở mức 37,94 đến 70,31 mg/g, demethylzeylasteral từ 0,3513 đến 9,205 mg/g, celastrol từ 3,202 đến 15,31 mg/g và triptophenolide đạt tới 1,807 mg/g tùy theo nhiệt độ sấy [3]. Rễ lôi công đằng trồng thích hợp sấy ở 60 độ C, rễ tự nhiên ở 80 độ C, còn vỏ rễ sấy thích hợp ở 40 độ C [3]. Sự chênh lệch lớn này khẳng định cạo vỏ không làm mất đi các diterpene kịch độc nằm sâu trong mô rễ [2, 6].
Cơ chế tàn phá gan và thận của chiết xuất thô
Lý do chiết xuất thô lôi công đằng cực kỳ nguy hiểm nằm ở độc tính trực tiếp của triptolide và sự tương tác phức tạp giữa các chất chuyển hóa [5, 7]. Triptolide là một diterpene triepoxide có hoạt tính kháng viêm mạnh nhưng lại có khoảng điều trị rất hẹp [4]. Độc tính trên gan của hợp chất này liên quan mật thiết đến hệ enzyme chuyển hóa CYP450, bơm tống thuốc P-glycoprotein, stress oxy hóa, tự thực bào quá mức và kích hoạt quá trình chết rụng tế bào tế bào [4].
Tại Trung Quốc, Trung tâm Giám sát Phản ứng có hại của Thuốc Quốc gia ghi nhận 839 trường hợp gặp biến chứng do chế phẩm lôi công đằng từ năm 2004 đến tháng 9 năm 2011, biểu hiện chủ yếu là viêm gan do thuốc và suy thận [4]. Từ tháng 9 năm 2014, một báo cáo khác ghi nhận thêm 472 trường hợp phản ứng phụ liên quan đến nhóm polyglycoside của loài cây này [4]. Độc tính trên thận cũng là vấn đề nghiêm trọng, đòi hỏi các phương pháp rà soát tổng quan nhanh bằng chứng y học để đánh giá nguy cơ tổn thương thận từ các chế phẩm đã được cấp phép [5].
Nghiên cứu năm 2019 về tương tác giữa hai hoạt chất chính celastrol và triptolide trên tế bào gan nguyên phát của chuột cống đã giải thích cơ chế gây ngộ độc [6]. Nghiên cứu phát hiện celastrol làm thay đổi lượng triptolide tích tụ bên trong tế bào gan [6]. Độc tính tế bào gan tăng lên rõ rệt khi kết hợp với chất ức chế enzyme 1-aminobenzotriazole, và giảm đi khi dùng chất cảm ứng enzyme phenobarbital [6]. Việc tích tụ quá mức triptolide nội bào cùng sự suy giảm điện thế màng ty thể chính là nguồn cơn dẫn đến hoại tử tế bào gan cấp [6].
Ảnh hưởng độc tính trên mô sống được chứng minh rõ rệt trong nghiên cứu năm 2021 trên chuột [7]. Chuột được cho uống dịch chiết thô lôi công đằng nguyên bản trong 28 ngày ghi nhận sự gia tăng vượt bậc của các chỉ số men gan: AST tăng 91%, ALT tăng 46%, men phosphatase kiềm ALP tăng 73% và chất chỉ điểm peroxy hóa lipid MDA tăng 99% [7]. Ngược lại, hệ thống phòng thủ chống oxy hóa trong gan của chuột bị phá vỡ hoàn toàn: enzym superoxide dismutase (SOD), glutathione (GSH), glutathione peroxidase (GPX) và glutathione-S transferase (GST) đều suy giảm nghiêm trọng [7].
Tác động tàn phá cơ quan sinh sản
Bên cạnh tổn hại gan và thận, lôi công đằng còn để lại hậu quả nặng nề trên hệ thống sinh sản của cả nam và nữ [1, 8]. Đánh giá tổng quan 40 năm nghiên cứu từ năm 1979 chỉ ra rằng các thành phần triptolide, tripchlorolide và glycoside toàn phần gây độc tính sinh sản đáng lo ngại [8]. Độc tính này phát sinh qua cơ chế kích hoạt chết rụng tế bào mầm sinh dục, làm gián đoạn quá trình sinh tinh hoặc tạo noãn, phá hủy mô tinh hoàn và buồng trứng, làm rối loạn cân bằng hormone cùng chuyển hóa năng lượng [8].
Ở nam giới, việc dùng các chế phẩm chứa lôi công đằng dẫn tới giảm khả năng vận động của tinh trùng, suy giảm số lượng tinh trùng hoặc mất hoàn toàn tinh trùng, gây giảm khả năng thụ thai hoặc vô sinh [8]. Dùng thuốc kéo dài còn dẫn đến teo tinh hoàn và giảm ham muốn tình dục [8]. Đối với nữ giới, các phản ứng có hại biểu hiện qua rối loạn kinh nguyệt, lượng kinh giảm mạnh, vô kinh, mất ham muốn và dẫn đến vô sinh [8]. Do đó, việc tự ý sắc uống chiết xuất thô từ rễ cây có thể gây vô sinh không thể hồi phục [8].
Vì sao chế biến thủ công không thể loại trừ rủi ro?
Các phương pháp dân gian như cạo vỏ, ngâm nước hay tự sao nấu hoàn toàn không kiểm soát được lượng độc chất đi vào cơ thể. Trong nghiên cứu năm 2021, các nhà khoa học đã thử nghiệm kỹ thuật chế biến giảm độc bằng phương pháp sắc sao lôi công đằng với dịch kim tiền thảo (Lysimachia christinae) theo thiết kế trực giao 4 yếu tố 3 mức [7]. Hàm lượng triptolide trong dược liệu thô ban đầu là 4,27 microgam/g, sau các điều kiện chế biến khác nhau dao động từ 1,75 đến 3,92 microgam/g [7].
Quy trình tối ưu nhất yêu cầu dùng 15% khối lượng kim tiền thảo, ủ ẩm 1 giờ, sao ở nhiệt độ chính xác 160 độ C trong 9 phút mới có thể giảm mức tăng các men gan AST 49%, ALT 32%, ALP 42% và MDA 17% trên chuột thí nghiệm [7]. Điều này minh chứng rằng việc giảm độc tính của loài cây này đòi hỏi thông số kỹ thuật nghiêm ngặt về nhiệt độ, dung môi và thời gian xử lý [7]. Việc đun sắc thủ công tại nhà hoàn toàn không đáp ứng được các tiêu chuẩn nhiệt độ và thời gian kiểm soát này.
Ngay cả các chế phẩm dược phẩm công nghiệp như viên nén lôi công đằng, viên glycoside lôi công đằng hay viên song tầng cũng gặp khó khăn lớn về tính ổn định [1]. Sự biến thiên về nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất giữa các nhà máy dẫn đến dao động lớn về hiệu quả và tác dụng phụ [1]. Tiêu chuẩn chất lượng hiện hành vẫn còn nhiều tranh cãi về hàm lượng thành phần chỉ thị [1]. Nếu nhà máy dược phẩm với trang thiết bị chiết xuất hiện đại còn phải đối mặt với thách thức kiểm soát độc tố, việc người dân tự chế biến dịch chiết thô tại nhà tiềm ẩn rủi ro tử vong do ngộ độc [1].
Ai cần tuyệt đối tránh xa loài cây này?
Dựa trên các dữ liệu về tổn thương nội tạng và cơ quan sinh sản, chiết xuất thô lôi công đằng chống chỉ định tuyệt đối cho các nhóm sau:
- Người có tiền sử viêm gan, suy gan, men gan cao hoặc mắc các rối loạn chức năng gan [1, 7]. Triptolide gây tổn thương trực tiếp lên tế bào gan và ức chế khả năng chống oxy hóa [4, 5, 7].
- Bệnh nhân suy thận hoặc suy giảm chức năng thận, do thận là cơ quan bài tiết nhạy cảm và gánh chịu tổn thương nặng từ các phản ứng có hại của dược liệu [1, 3, 7].
- Nam giới và phụ nữ đang trong độ tuổi sinh sản, người có kế hoạch sinh con hoặc đang điều trị vô sinh hiếm muộn, bởi hoạt chất cây phá hủy tinh hoàn, buồng trứng và giảm sản sinh tinh trùng, noãn [8].
- Người có hệ miễn dịch suy yếu, người mắc bệnh lý tủy xương hoặc rối loạn tế bào máu [1].
- Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: chưa có nghiên cứu an toàn trên nhóm này; dữ liệu hiện có trên động vật và người trưởng thành cho thấy độc tính tàn phá tế bào mầm và cơ quan sinh sản nghiêm trọng [8].
Lời khuyên an toàn trong đời sống
Người dân tuyệt đối không thu hái, mua bán rễ lôi công đằng trôi nổi để tự cạo vỏ, phơi khô, ngâm rượu hoặc sắc lấy nước uống. Biện pháp cạo vỏ bằng mắt thường không làm biến mất triptolide và các diterpene gây chết tế bào gan [5, 6]. Chiết xuất thô từ rễ cây chứa hỗn hợp độc tố không rõ nồng độ, chỉ cần một sai lệch nhỏ về liều lượng cũng đủ gây ngộ độc cấp tính [1, 2].
Khi mắc các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống hoặc hội chứng thận hư, bệnh nhân phải đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa [1]. Mọi quyết định sử dụng thuốc chứa thành phần lôi công đằng phải do bác sĩ chỉ định bằng các chế phẩm đã được cấp phép, có hàm lượng hoạt chất được chuẩn hóa [1, 7]. Trong suốt quá trình điều trị, bệnh nhân cần được xét nghiệm định kỳ chức năng gan, chức năng thận và huyết học để kịp thời phát hiện phản ứng bất lợi [1, 7]. Tuyệt đối không tự ý dùng bài thuốc dân gian thay thế phác đồ y khoa chính thống.
Lôi công đằng là loài cây có dược tính ức chế miễn dịch mạnh nhưng đi liền với ranh giới an toàn cực kỳ hẹp [1]. Hành động cạo vỏ rễ không giúp loại bỏ độc tố gây hại gan thận và sinh sản [4, 6, 8]. Người bệnh cần tỉnh táo, loại bỏ thói quen tự sắc thuốc thảo mộc lạ và luôn tìm kiếm sự chăm sóc y tế từ các bác sĩ có chuyên môn.

