Sói Nhật (Chloranthus japonicus) là cây thuốc thuộc chi Chloranthus, thường dùng trong y học cổ truyền chữa viêm hoặc sốt rét [1]. Gần đây, giới khoa học chú ý nhóm hoạt chất lindenane sesquiterpene đặc hữu của cây vì tiềm năng ức chế tế bào ung thư và kháng viêm trong ống nghiệm. Dù vậy, các hoạt tính này mới dừng lại ở thử nghiệm tiền lâm sàng, chưa có thử nghiệm điều trị ung thư trên người.
Lindenane sesquiterpenoid là nhóm hợp chất thiên nhiên đặc trưng của các loài trong chi Sói. Chúng tồn tại ở cả dạng phân tử đơn lẫn dimer (hai phân tử ghép lại), tạo nên cấu trúc hóa học phức tạp và đa dạng. Các thử nghiệm bước đầu cho thấy hợp chất này có khả năng độc tế bào với một số dòng tế bào ung thư và ức chế các tín hiệu tiền viêm mạnh mẽ.
Nhóm hoạt chất đặc hữu của chi Sói
Toàn cây sói Nhật chứa nhiều dòng sesquiterpenoid đa dạng. Nghiên cứu phân lập ghi nhận sự có mặt của các khung eudesmane, guaiane, germacrane và đặc biệt là lindenane cùng các dimer lindenane disesquiterpenoid [2]. Cấu trúc phân tử của nhóm lindenane thường chứa vòng bicyclo, cầu lactone không bão hòa và các tâm lập thể phức tạp [1].
Nhiều hợp chất mới thuộc lớp dimer đã được tìm thấy từ sói Nhật, tiêu biểu như chlorajapolide A–H [3], chlorajaponilide A–E [4], và chlorajaponilide F–H [5]. Các dẫn xuất dimer này thường đóng vai trò là những chất có hoạt tính sinh học nổi bật nhất trong cây sói Nhật [3], [4].
Bằng chứng ức chế tế bào ung thư trong ống nghiệm
Về khả năng kháng khối u, dữ liệu khoa học hiện chỉ giới hạn ở mức thử nghiệm độc tế bào in vitro. Một nghiên cứu năm 2017 tiến hành đánh giá tác dụng của các sesquiterpenoid từ sói Nhật trên ba dòng tế bào ung thư người gồm MGC803 (ung thư dạ dày), HepG2 (ung thư gan) và HL-60 (bạch cầu) [2]. Kết quả cho thấy dẫn xuất dimer shizukaol C (hợp chất 18) ức chế mạnh sự tăng sinh của cả ba dòng tế bào với giá trị IC50 lần lượt là 4,60 ± 1,05 µM đối với MGC803; 3,17 ± 0,66 µM đối với HepG2; và 1,57 ± 0,27 µM đối với HL-60 [2].
Bên cạnh đó, các dẫn xuất lindenane disesquiterpenoid khác như chlorajaponilide và shizukaol B cũng thể hiện độc tính tế bào rất mạnh khi thử nghiệm trên tế bào lympho người C8166 [4]. Cụ thể, shizukaol B đạt nồng độ ức chế 50% tế bào (CC50) ở mức 0,020 µM [4]. Ba hợp chất disesquiterpenoid khác trong nghiên cứu này cũng gây độc tế bào C8166 với giá trị CC50 dao động từ 0,022 đến 0,089 µM [4]. Nghiên cứu năm 2012 từ phần trên mặt đất của sói Nhật cũng phân lập các chất chlorajapolide F–I cùng dịch chiết phân đoạn để sàng lọc độc tế bào trên hai dòng tế bào ung thư người [6].
Hoạt tính kháng viêm liên quan
Ngoài tác động trên tế bào ung thư, nhóm lindenane sesquiterpene từ sói Nhật còn được chứng minh ức chế viêm mạnh. Nghiên cứu năm 2016 trên đại thực bào RAW 264.7 kích thích bởi LPS cho thấy các dimer chlojapolide 1, 11, 13 và 17 ức chế sản sinh oxit nitric (NO) với IC50 từ 6,91 đến 15,75 µM, vượt trội hơn chất đối chứng dương quercetin (IC50 = 15,90 µM) [3]. Hoạt chất chlorajaponol B cũng ức chế giải phóng NO với IC50 đạt 9,56 ± 0,71 µM [2].
Hoạt chất chlojaponilactone B phân lập từ sói Nhật còn làm giảm các chất trung gian gây viêm như iNOS, TNF-alpha và IL-6 theo liều dùng [7]. Thử nghiệm trên mô hình chuột bị kích ứng tai bằng hóa chất TPA cho thấy hợp chất này làm giảm độ dày phù nề tai và sự thâm nhiễm bạch cầu trung tính [7]. Cơ chế chống viêm được xác định là do ức chế con đường truyền tín hiệu NF-kappaB, phong tỏa sự chuyển vị nhân của tiểu phần p65 mà không ảnh hưởng tới con đường MAPK [7]. Một loài cùng chi là Chloranthus fortunei cũng sở hữu các dimer lindenane có khả năng làm giảm gốc oxy hóa tự do (ROS), IL-1beta thông qua điều hòa thể viêm NLRP3 trên tế bào biểu mô phổi [8].
Hoạt tính ức chế virus HIV và viêm gan C
Bên cạnh độc tế bào và kháng viêm, các lindenane dimer từ cây sói Nhật còn ức chế sự nhân lên của virus. Một nghiên cứu công bố năm 2011 xác nhận shizukaol B ức chế virus HIV-1 chủng hoang dại (wt) và hai chủng kháng thuốc NNRTI với giá trị EC50 lần lượt là 0,22; 0,47 và 0,50 µM [4].
Nghiên cứu năm 2016 tiếp tục phát hiện các hợp chất chlorajaponilide F, G và các chất đồng đẳng ức chế chủng HIV-1 thông thường với EC50 từ 3,08 đến 17,16 µM [5]. Đồng thời, các chất này còn giữ nguyên hiệu lực trên các chủng kháng thuốc NNRTI và ức chế thêm sự sao chép của virus viêm gan C (HCV) ở nồng độ tương đương [5].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng
Nhiều người lầm tưởng thảo dược có hoạt chất diệt tế bào ung thư trong ống nghiệm đồng nghĩa với việc uống thảo dược sẽ chữa khỏi ung thư. Đây là nhận định hoàn toàn sai lệch. Toàn bộ dữ liệu về hiệu quả chống tế bào ung thư của sói Nhật mới thực hiện trên đĩa nuôi cấy in vitro tế bào ung thư gan, dạ dày và bạch cầu [2]. Thử nghiệm tế bào chỉ cho biết hoạt chất có thể gây chết tế bào khi tiếp xúc trực tiếp ở nồng độ nhất định.
Đặc tính độc tế bào cao trên tế bào lympho người C8166 với CC50 chỉ ở mức 0,020 µM [4] cho thấy các hoạt chất lindenane phân lập có thể không chọn lọc, tức có thể gây độc cho cả tế bào lành. Hiện chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào trên bệnh nhân ung thư để kiểm chứng độ an toàn, khả năng phân bố sinh học hay liều dung nạp ở người.
Ai nên thận trọng?
Người mắc bệnh ung thư tuyệt đối không tự ý tìm kiếm cây sói Nhật để sắc uống thay thế phác đồ y khoa chính thống. Dược liệu thô chứa nhiều hợp chất chưa qua tinh chế, rất dễ gây độc cho gan, thận hoặc cản trở các thuốc điều trị đích và hóa trị.
Phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ cần tránh dùng loại cây này do thiếu hoàn toàn dữ liệu về tính an toàn. Người có tiền sử viêm loét đường tiêu hóa hoặc đang dùng thuốc điều trị mạn tính cần tham vấn bác sĩ chuyên khoa trước khi tiếp cận bất kỳ bài thuốc dân gian nào từ chi Chloranthus.
Áp dụng thực tế
Hiện nay, các sesquiterpenoid trong sói Nhật chỉ được coi là nguồn hoạt chất tự nhiên để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu hóa trị liệu và thiết kế thuốc mới. Người dân không nên tự ý thu hái hay mua các sản phẩm trôi nổi mang danh "sói Nhật trị ung thư".
Nếu có nhu cầu dùng dược liệu chứa chiết xuất sói Nhật cho các chứng viêm thông thường theo y học cổ truyền, người bệnh chỉ nên dùng dưới sự kê đơn và theo dõi của thầy thuốc chuyên khoa được cấp phép. Cần tuân thủ liều lượng vừa phải và dừng ngay khi thấy dấu hiệu bất thường.
Sói Nhật chứa nguồn tài nguyên lindenane sesquiterpene phong phú với hoạt tính độc tế bào và kháng viêm đáng chú ý trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, khoảng cách từ đĩa nuôi cấy tế bào đến thuốc điều trị thực tế còn rất xa. Người bệnh cần giữ cái nhìn khoa học, không tự ý dùng thảo dược chưa kiểm chứng lâm sàng để điều trị ung thư.

