Nhiều người hễ thấy sốt, ngạt mũi hay đau họng liền tìm mua thuốc kháng sinh uống. Thói quen tự ý dùng thuốc này phổ biến trong cộng đồng vì tâm lý muốn bệnh nhanh thuyên giảm. Tuy nhiên, hành động này hoàn toàn không đem lại hiệu quả chữa trị và tiềm ẩn nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng.

Kháng sinh vô hiệu trước bệnh cảm cúm thông thường [1]. Bệnh cảm cúm do virus gây ra, trong khi kháng sinh chỉ tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn [1, 6]. Việc dùng kháng sinh cho bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus không trị được căn nguyên, không ngăn được biến chứng bội nhiễm vi khuẩn và làm gia tăng nguy cơ kháng kháng sinh [2].

Bản chất bệnh cảm cúm và cơ chế vô hiệu của kháng sinh

Cảm lạnh thông thường và cảm cúm là các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên chủ yếu do virus gây ra [1, 2]. Nhóm tác nhân này gồm rhinovirus, virus cúm (influenza virus), virus hợp bào hô hấp (RSV), adenovirus, metapneumovirus, parainfluenza virus, bocavirus, coronavirus và enterovirus [3].

Kháng sinh là nhóm thuốc chuyên biệt nhắm vào cấu trúc hoặc chu trình chuyển hóa đặc thù của vi khuẩn, như vách tế bào hoặc ribosome vi khuẩn. Do virus có cấu trúc hoàn toàn khác biệt và sống ký sinh bên trong tế bào vật chủ, kháng sinh hoàn toàn mất tác dụng đối với các bệnh đường hô hấp do virus [1, 5, 8]. Nghiên cứu chỉ ra rằng dùng kháng sinh cho nhiễm virus đường hô hấp là sai lầm vì thuốc không diệt được căn nguyên gây bệnh, cũng không ngăn ngừa được tình trạng nhiễm trùng thứ cấp do vi khuẩn [2]. Do đó, thuốc kháng sinh không có giá trị điều trị cảm lạnh ở cả người lớn và trẻ nhỏ [5, 8].

Thực trạng lạm dụng thuốc qua các nghiên cứu quốc tế

Mặc dù y văn khẳng định kháng sinh vô hiệu trước virus, tình trạng kê đơn quá mức vẫn xuất hiện tại nhiều quốc gia [1, 6]. Năm 2015, nghiên cứu tại cơ sở chăm sóc ban đầu ở Brazil khảo sát 134 trẻ em dưới 12 tuổi mắc cảm lạnh thông thường từ tháng 3/2008 đến tháng 2/2009 (độ tuổi trung vị 2,9 tuổi) [3]. Xét nghiệm dịch rửa mũi họng phát hiện virus hô hấp ở 73,9% bệnh nhi, tỷ lệ đồng nhiễm đạt 30,3% [3]. Phổ biến nhất là rhinovirus chiếm 39,6% (53/134), virus cúm chiếm 24,6% (33/134) và RSV chiếm 13,4% (8/134) [3]. Đáng chú ý, tỷ lệ trẻ được kê đơn kháng sinh lên tới 39,6% (53/134), trong đó 69,8% đơn thuốc (37/53) bị đánh giá là không phù hợp [3]. Trẻ nhiễm virus cúm bị kê kháng sinh không phù hợp cao hơn hẳn nhóm nhiễm RSV và rhinovirus (p = 0,016) [3].

Tại Mỹ, nghiên cứu dữ liệu quốc gia từ Khảo sát Chăm sóc Y tế Ngoại trú Bệnh viện năm 1996 ghi nhận khoảng 2,7 triệu lượt khám cấp cứu vì cảm lạnh, viêm đường hô hấp trên và viêm phế quản [4]. Kháng sinh được kê cho 24,2% (khoảng tin cậy 95% CI: 18,9 - 29,5) bệnh nhân cảm lạnh và nhiễm trùng hô hấp trên, và 42,2% (95% CI: 35,2 - 49,2) bệnh nhân viêm phế quản cấp, dù đã loại trừ các bệnh kèm như COPD, viêm phổi hay HIV [4]. Tỷ lệ kê đơn không liên quan đến chủng tộc, giới tính, khu vực địa lý, nhưng người hút thuốc có nguy cơ bị kê đơn cao gấp 4,3 lần người không hút (95% CI: 2,2 - 8,3) [4]. Bác sĩ nội trú ít kê kháng sinh hơn bác sĩ chính thức (OR 0,43; 95% CI: 0,19 - 0,98) và trẻ dưới 18 tuổi ít bị kê đơn hơn người lớn (OR 0,32; 95% CI: 0,20 - 0,52) [4].

Tại Papua New Guinea, nghiên cứu cắt ngang năm 2018 tại một bệnh viện tỉnh ghi nhận 89 trong số 108 trẻ (82,4%) được chẩn đoán cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp trên bị kê đơn kháng sinh [5]. Các yếu tố làm tăng khả năng dùng thuốc gồm có sốt khi khám, trẻ trên 12 tháng tuổi và triệu chứng kéo dài từ 7 ngày trở lên [5]. Dù 95% nhân viên y tế biết nguyên nhân cảm lạnh là do virus, vẫn có 30% cho rằng cần dùng kháng sinh để điều trị, bộc lộ khoảng cách lớn giữa kiến thức và thực hành [5].

Hiểu lầm của người bệnh thúc đẩy việc dùng sai thuốc

Quan niệm sai lầm của cộng đồng là nguyên nhân lớn dẫn đến lạm dụng kháng sinh [2, 6, 7]. Nghiên cứu năm 2001 trên 425 sinh viên tại 3 khuôn viên trường đại học cho thấy sinh viên nhận thức kém về các biểu hiện điển hình của cảm lạnh và hiểu sai về cách chữa [6]. Tỷ lệ ủng hộ dùng kháng sinh và tìm kiếm trợ giúp y tế tăng cao rõ rệt khi đối mặt với triệu chứng chảy dịch mũi đổi màu và sốt nhẹ [6]. Niềm tin vào hiệu quả của kháng sinh giảm dần theo số năm học đại học, song xu hướng dùng thuốc lại tăng theo độ tuổi [6].

Tại Đức, khảo sát trực tuyến năm 2008 trên 1.076 người từ 15 đến 78 tuổi cho thấy 91,8% khẳng định chỉ dùng kháng sinh "khi thực sự cần thiết" [7]. Dù vậy, 10,5% người tham gia vẫn kỳ vọng được bác sĩ kê kháng sinh khi bị cảm lạnh thường (trong khi với viêm phổi con số này là 92,7%) [7]. Những người nghĩ "cảm lạnh hoặc cúm có thể trị hiệu quả bằng kháng sinh" (tỷ lệ 37,6%) có khả năng kỳ vọng nhận đơn thuốc cao gấp 9,6 lần (OR 9,6; 95% CI: 3,8 - 24,3) [7]. Người cho rằng "cần uống kháng sinh khi đau họng để phòng bệnh nặng hơn" (tỷ lệ 8,6%) có tỷ lệ kỳ vọng cao gấp 7,6 lần (OR 7,6; 95% CI: 3,9 - 14,5) [7]. May mắn là trong số người kỳ vọng kháng sinh, 71% sẵn sàng tin tưởng và chấp nhận nếu bác sĩ giải thích đơn thuốc là không cần thiết [7].

Áp lực từ sự trông đợi của bệnh nhân khiến bác sĩ nhiều nơi dễ nhượng bộ kê đơn dù biết không cần thiết [6, 7]. Ngoài ra, các biện pháp thông thường điều trị cảm lạnh đa phần kém hiệu quả và có thể gây tác dụng phụ, làm gánh nặng chi phí y tế và nguy cơ vi khuẩn đề kháng thuốc leo thang [2].

Hệ lụy từ việc lạm dụng kháng sinh bừa bãi

Lạm dụng kháng sinh cho bệnh nhiễm trùng đường hô hấp không đem lại tác dụng trị liệu mà gây hậu quả lâu dài [3, 6]. Rủi ro nghiêm trọng hàng đầu là thúc đẩy sự xuất hiện và lây lan của các mầm bệnh vi khuẩn kháng thuốc (kháng kháng sinh) [3, 4, 6]. Khi vi khuẩn quen thuốc, các loại kháng sinh thông thường mất tác dụng, dẫn tới việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn thực sự trong tương lai trở nên vô cùng khó khăn và tốn kém [3, 6].

Kế đến, việc sử dụng thuốc bừa bãi làm tăng gánh nặng chi phí y tế trực tiếp cho người bệnh và xã hội mà không rút ngắn được thời gian bệnh [3, 6]. Uống kháng sinh không đúng chỉ định còn khiến cơ thể đối mặt với tác dụng phụ của thuốc mà không đem lại bất kỳ lợi ích lâm sàng nào [3, 6].

Ai nên thận trọng khi xử trí bệnh cảm cúm?

Trẻ nhỏ là đối tượng cần đặc biệt thận trọng khi chăm sóc đường hô hấp [5, 8]. Các loại thuốc ho và cảm lạnh không kê đơn tiềm ẩn nguy cơ gây hại mà không mang lại lợi ích cho trẻ nhỏ, do đó tuyệt đối không dùng cho trẻ dưới 4 tuổi [5, 8]. Phụ huynh không tự ý cho trẻ dùng kháng sinh, corticoid dạng hít hay dạng uống (như prednisolone) vì các thuốc này đều không hiệu quả với cảm lạnh ở trẻ [5, 8].

Bệnh nhân người lớn có bệnh lý nền hô hấp mạn tính hoặc triệu chứng nặng kéo dài cũng cần theo dõi cẩn trọng, tránh việc tự phỏng đoán đơn thuốc [4]. Khi người bệnh nghi ngờ có dấu hiệu nhiễm khuẩn thực sự hoặc trở nặng, việc thăm khám bác sĩ là bắt buộc thay vì tự mua thuốc uống tại nhà.

Chăm sóc và cải thiện triệu chứng đúng cách theo khoa học

Bệnh cảm lạnh phần lớn là tự giới hạn, trọng tâm xử trí là làm giảm nhẹ triệu chứng và phòng ngừa lây lan [4, 5, 8]. Vệ sinh tay thường xuyên là biện pháp hiệu quả đã được chứng minh giúp hạn chế phát tán và lây nhiễm virus đường hô hấp [1].

Đối với trẻ em, một số liệu pháp hỗ trợ cải thiện triệu chứng cảm lạnh gồm bôi dầu xoa (vapor rub), kẽm sulfat, chiết xuất Pelargonium sidoides (phong lữ) và mật ong kiều mạch [5, 8]. Để dự phòng giảm tần suất cảm lạnh ở trẻ, có thể dùng men vi sinh dự phòng (probiotics), kẽm sulfat, rửa mũi bằng nước muối sinh lý và chế phẩm thảo dược Chizukit [1]. Thảo dược Echinacea không mang lại hiệu quả cho trẻ [5, 8].

Đối với người lớn, các thuốc như pseudoephedrine, phenylephrine, ipratropium dạng hít và kẽm (dạng axetat hoặc gluconat) giúp giảm nhẹ mức độ và thời gian triệu chứng [5, 8]. Uống kẽm trong vòng 24 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng giúp rút ngắn thời gian cảm lạnh ở người trưởng thành khỏe mạnh [8]. Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) giúp giảm bớt cảm giác khó chịu do cảm nhưng không cải thiện các triệu chứng hô hấp [5, 8]. Bổ sung vitamin C dự phòng đều đặn giúp rút ngắn nhẹ thời gian bệnh ở cả người lớn và trẻ nhỏ [5, 8]. Tỏi dùng dự phòng có thể giảm tần suất mắc cảm ở người lớn nhưng không rút ngắn thời gian bị bệnh [1]. Một số biện pháp không mang lại hiệu quả cắt triệu chứng ở người lớn gồm thuốc kháng histamin đơn thuần, corticoid xịt mũi, codein, xông hơi và rửa mũi nước muối [1].

Lời khuyên an toàn

Kháng sinh hoàn toàn không có tác dụng đối với bệnh cảm lạnh và cảm cúm do virus [1, 5, 8]. Việc tự ý uống thuốc không giúp bệnh khỏi nhanh hơn mà còn tạo ra vi khuẩn kháng thuốc và gây lãng phí kinh tế [3, 6].

Khi có biểu hiện cảm cúm, người bệnh nên tập trung nghỉ ngơi, giữ vệ sinh tay và cân nhắc các biện pháp làm nhẹ triệu chứng phù hợp với lứa tuổi [5, 8]. Người bệnh có triệu chứng sốt cao kéo dài hoặc có bệnh nền cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán chính xác, tuyệt đối không tự mua và dùng kháng sinh khi chưa có chỉ định y khoa.