Nhiều người có thói quen kết hợp các bài thuốc y học cổ truyền song song với tân dược để hỗ trợ kiểm soát bệnh mạn tính. Trong đó, tang bạch bì (vỏ rễ cây dâu tằm) là vị thuốc quen thuộc thường được dùng trị ho, viêm phế quản hoặc các chứng bệnh tim mạch. Tuy nhiên, việc tự ý kết hợp dược liệu này cùng thuốc hạ huyết áp tây y tiềm ẩn nhiều rủi ro sức khỏe khôn lường.

Câu trả lời ngắn gọn là người bệnh đang dùng thuốc hạ áp cần hết sức thận trọng khi dùng tang bạch bì. Các hoạt chất trong vỏ rễ cây dâu tằm vốn sở hữu hoạt tính hạ áp tự nhiên; nếu kết hợp bừa bãi với tân dược điều trị cao huyết áp, nguy cơ cộng dồn tác dụng có thể dẫn đến tụt huyết áp đột ngột.

Tang bạch bì là gì và tác động ra sao đến mạch máu?

Tang bạch bì chính là phần vỏ rễ phơi khô của cây dâu tằm trắng (tên khoa học là Morus alba L., thuộc họ Dâu tằm Moraceae) [1], [2]. Dược liệu này được ghi nhận trong Dược điển Trung Quốc với tên gọi Sang bai pi nhằm thanh nhiệt phế, giảm ho, suyễn; tại Hàn Quốc gọi là Pong-na-moo trị ho và tăng huyết áp; còn tại Nhật Bản gọi là Sohakuhi [2].

Về mặt hóa học thực vật, vỏ rễ dâu tằm chứa nhiều hoạt chất sinh học giá trị. Các nghiên cứu định tính và định lượng cho thấy nhóm chất chính gồm flavonoid, alkaloid, steroid, coumarin, stilbene, arylbenzofuran và các hợp chất cộng Diels-Alder [1], [3]. Một nghiên cứu phân tích bằng phương pháp UPLC-Q/TOF-MS đã xác định được 40 hợp chất trong vỏ cành và vỏ rễ dâu tằm, trong đó có 19 hợp chất đặc hiệu riêng cho vỏ rễ [3].

Các thành phần tự nhiên này mang lại nhiều hoạt tính dược lý phong phú, bao gồm hạ đường huyết, hạ lipid máu, chống oxy hóa, kháng viêm, bảo vệ thần kinh, hạ huyết áp và tương tác qua enzym chuyển hóa thuốc CYPs cùng các protein vận chuyển [1], [2]. Chính vì chứa các chất có khả năng can thiệp trực tiếp vào chức năng tuần hoàn và enzym gan, tang bạch bì có cơ chế tác động kép lên hệ tim mạch.

Nguy cơ cộng dồn tác dụng gây tụt huyết áp khi phối hợp tân dược

Cơ chế hạ áp tự nhiên của chiết xuất từ cây dâu tằm đã được làm sáng tỏ qua các thử nghiệm sinh học. Nghiên cứu thực nghiệm năm 2024 khảo sát tác động của chiết xuất dâu tằm trên mô hình chuột cống đực Sprague-Dawley bị tăng huyết áp nhân tạo do ức chế tổng hợp nitric oxide (NO) bằng L-NAME trong 6 tuần [4]. Động vật thí nghiệm được chia thành 4 nhóm: nhóm đối chứng, nhóm uống L-NAME, nhóm uống L-NAME kèm chiết xuất dâu tằm, và nhóm uống L-NAME kèm thuốc hạ áp tân dược captopril [4].

Kết quả thực nghiệm cho thấy chiết xuất dâu tằm có tác dụng ngăn ngừa một phần sự phát triển của tình trạng tăng huyết áp [4]. Mặc dù chiết xuất dâu tằm không đưa huyết áp về mức bình thường hoàn toàn như thuốc captopril, nó giúp giảm phản ứng co mạch quá mức với phenylephrine và cải thiện khả năng giãn mạch phụ thuộc vào acetylcholine tại các vòng động mạch chủ thông qua tăng cường hoạt tính của nitric oxide [4].

Khi người bệnh đang uống thuốc hạ áp (như thuốc ức chế men chuyển captopril) lại dùng thêm tang bạch bì, hai tác nhân cùng tạo ra hiệu ứng giãn mạch và kích hoạt nitric oxide. Sự cộng gộp này khiến lòng mạch giãn quá mức, dẫn đến tụt huyết áp sâu. Hơn nữa, tổng quan dược lý chỉ ra các hoạt chất của dâu tằm còn can thiệp vào enzym cytochrom P450 (CYP) và chất vận chuyển thuốc [1]. Tương tác này có thể làm thay đổi nồng độ thuốc tân dược tự do trong máu, làm tăng độc tính hoặc khuếch đại quá mức tác dụng hạ áp.

Các nghiên cứu nói gì về hoạt tính sinh học của tang bạch bì?

Bên cạnh tác động lên huyết áp, tang bạch bì và các bộ phận của cây dâu tằm còn được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các hoạt tính dược lý khác nhau:

Nghiên cứu công bố năm 2013 đánh giá tác dụng kháng viêm đường hô hấp của vỏ rễ dâu tằm trên chuột nhắt bị viêm phổi do lipopolysaccharide [5]. Chiết xuất cồn vỏ rễ ở liều 200–400 mg/kg thể trọng dùng đường uống mỗi ngày đã ức chế rõ rệt các triệu chứng giống viêm phế quản, giảm sản xuất TNF-alpha và giảm thâm nhiễm tế bào viêm [5]. Trên tế bào biểu mô phổi người (A549) và đại thực bào phổi chuột (MH-S), các flavonoid chính gồm kuwanone E, kuwanone G và norartocarpanone đã ức chế sản sinh IL-6 và oxit nitric (NO) [5].

Năm 2025, một nghiên cứu hóa học và sinh học thực hiện trên dịch chiết ethyl acetate từ vỏ cành và vỏ rễ dâu tằm [3]. Kết quả thử nghiệm in vitro cho thấy cả hai loại chiết xuất đều ức chế tiết NO, trong đó chiết xuất vỏ rễ thể hiện tác dụng mạnh hơn chiết xuất vỏ cành [3]. Tám hợp chất phân lập từ dâu tằm có khả năng ức chế giải phóng các yếu tố gây viêm như NO, IL-6 và IL-1beta phụ thuộc nồng độ; một số hợp chất (SZP-1, SZP-6, SZP-8) ở nồng độ cao cho hiệu quả kháng viêm in vitro tương đương với thuốc đối chứng meloxicam [3].

Năm 2010, một nghiên cứu trên chuột cống bị tổn thương gan và thận do carbon tetrachloride (tiêm dưới da liều 1 mL dung dịch 40% v/v/kg) đã kiểm tra dịch chiết methanol của vỏ rễ dâu tằm ở liều 50 mg/kg tiêm phúc mạc [6]. Chiết xuất thể hiện hoạt tính chống oxy hóa thông qua việc duy trì nồng độ glutathione (GSH), hoạt tính enzyme SOD, catalase và bảo vệ gan tương đương silymarin, phản ánh qua sự cải thiện các men gan AST, ALT, ALP, bilirubin toàn phần cũng như chỉ số urê, creatinine máu [6].

Ngoài ra, nghiên cứu năm 2012 khảo sát hoạt chất morusinol phân lập từ vỏ rễ dâu tằm [7]. Trong ống nghiệm, morusinol ức chế ngưng tập tiểu cầu thỏ và ức chế hình thành thromboxane B2 (TXB2) do collagen và axit arachidonic gây ra theo nồng độ (nồng độ 5, 10, 30 microg/mL morusinol giảm tạo TXB2 do collagen tương ứng 32,1%, 42,0% và 99,0%) [7]. Khi thử nghiệm in vivo trên mô hình huyết khối động mạch do FeCl3 ở chuột, dùng morusinol đường uống liều 20 mg/kg trong 3 ngày làm tăng thời gian tắc mạch thêm 20,3 ± 5,0 phút (trong khi aspirin cùng liều 20 mg/kg tăng thêm 6,8 ± 2,9 phút) [7]. Tác dụng chống kết tập tiểu cầu này cũng được ghi nhận ở chiết xuất lá dâu tằm trên chuột cống tăng huyết áp [4].

Lợi ích tiềm năng và giới hạn của bằng chứng hiện có

Các tài liệu cho thấy vỏ rễ dâu tằm là một nguồn dược liệu giàu chất chống oxy hóa, kháng viêm, hạ áp và ức chế kết tập tiểu cầu [1], [2], [5], [7], [4]. Nhờ khả năng tăng cường hoạt tính NO và giãn mạch, dược liệu này hứa hẹn hỗ trợ bảo vệ hệ tim mạch và bảo vệ tế bào trước tổn thương oxy hóa [6], [4].

Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất hiện nay là phần lớn dữ liệu chứng minh cơ chế hạ áp, chống viêm, kháng huyết khối hay bảo vệ gan thận chỉ mới dừng lại ở mô hình động vật (chuột nhắt, chuột cống) hoặc nuôi cấy tế bào ống nghiệm [3], [5], [6], [7], [4]. Chưa có các thử nghiệm lâm sàng đối chứng quy mô trên người bệnh tăng huyết áp để đưa ra khoảng liều an toàn chuẩn mực hoặc đo lường chính xác mức độ tương tác dược động học giữa tang bạch bì và từng nhóm thuốc tây y cụ thể.

Do đó, người dùng không thể vội vàng coi tang bạch bì là giải pháp thay thế thuốc kê đơn hay tự ý bổ sung như một thực phẩm chức năng vô hại.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược trị huyết áp

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "dược liệu thiên nhiên hoàn toàn lành tính, dùng chung với thuốc tây càng tăng hiệu quả trị bệnh". Trên thực tế, thảo dược có dược tính mạnh như tang bạch bì khi kết hợp với thuốc tân dược sẽ tạo ra hiện tượng tương tác thuốc - thuốc rất khó kiểm soát [1].

Nhiều người nghĩ rằng nếu đo huyết áp thấy chưa hạ như mong muốn thì có thể sắc thêm tang bạch bì uống bổ sung. Việc tự ý kết hợp cơ chế giãn mạch của thảo dược với cơ chế của thuốc kê đơn (như captopril) có thể khiến huyết áp tụt xuống dưới ngưỡng an toàn [4]. Người bệnh có thể gặp các triệu chứng nguy hiểm do tụt huyết áp như hoa mắt, chóng mặt, ngất xỉu hoặc thiếu máu tưới lên não và tim.

Bên cạnh đó, chất lượng dược liệu trôi nổi trên thị trường cũng là rủi ro tiềm ẩn. Một nghiên cứu kiểm tra tại Nhật Bản năm 2011 phân tích thành phần bằng LC/UV và LC/MS cho thấy các sản phẩm chiết xuất vỏ dâu tằm làm phụ gia thực phẩm ghi nhãn từ loài Morus bombycis thực chất lại làm từ Morus alba hoặc giống lai, và có thành phần hóa học khác biệt rõ rệt so với dược liệu Tang bạch bì chuẩn (Souhakuhi) có nguồn gốc từ Trung Quốc theo quy định của Dược điển Nhật Bản [8]. Điều này khẳng định việc tự mua các sản phẩm không rõ nguồn gốc rất dễ dẫn đến sai lệch thành phần hoạt chất, gây nguy cơ quá liều hoặc tương tác bất lợi.

Những ai cần đặc biệt thận trọng?

Nhóm đối tượng cần thận trọng hàng đầu là bệnh nhân tăng huyết áp đang dùng thuốc điều trị hàng ngày. Sự phối hợp không qua giám sát y tế dễ gây tụt áp đột ngột do tác động giãn mạch kép và ảnh hưởng qua chuyển hóa thuốc [1], [4].

Người đang sử dụng thuốc chống đông máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu (như aspirin) cũng phải cẩn trọng tối đa. Nghiên cứu cho thấy morusinol từ vỏ rễ dâu tằm và chiết xuất dâu tằm có hoạt tính ức chế ngưng tập tiểu cầu mạnh, kéo dài thời gian tắc mạch [7], [4]. Nếu dùng chung với các thuốc chống đông, nguy cơ chảy máu hoặc xuất huyết dưới da sẽ tăng cao.

Ngoài ra, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ em cần tránh tự ý sử dụng tang bạch bì. Hiện tại, chưa có dữ liệu nghiên cứu an toàn và độc tính đầy đủ trên các nhóm đối tượng đặc biệt này trong các trích đoạn khoa học sẵn có; dữ liệu hiện hành chủ yếu thực hiện trên động vật thí nghiệm [5], [6], [4].

Lời khuyên và cách áp dụng thực tế an toàn

Người bệnh tăng huyết áp không được tự ý mua tang bạch bì về sắc uống hoặc sử dụng các chế phẩm bổ sung chứa dâu tằm khi chưa có ý kiến của bác sĩ tim mạch hoặc chuyên gia y học cổ truyền. Việc tuân thủ đơn thuốc hạ áp tân dược vẫn là nguyên tắc quan trọng hàng đầu để kiểm soát chỉ số huyết áp ổn định.

Nếu bác sĩ chỉ định dùng bài thuốc đông y có chứa tang bạch bì để trị các chứng bệnh khác như ho hoặc viêm phế quản, người bệnh cần liệt kê đầy đủ danh sách thuốc huyết áp đang sử dụng để được cân chỉnh liều lượng dược liệu ở mức vừa phải và an toàn.

Trong suốt quá trình sử dụng, người bệnh cần đo huyết áp đều đặn 2 lần mỗi ngày (sáng và tối) để theo dõi sát diễn biến. Nếu xuất hiện các dấu hiệu như vã mồ hôi, choáng váng, đứng lên hoa mắt, tim đập nhanh hoặc tụt huyết áp quá mức, cần dừng ngay dược liệu và đến cơ sở y tế để được xử trí kịp thời.

Tóm lại, tang bạch bì là một dược liệu có nhiều giá trị sinh học nhưng đồng thời mang hoạt tính hạ áp và ức chế tiểu cầu rõ rệt trên thực nghiệm [7], [4]. Khi đang điều trị cao huyết áp bằng tân dược, người bệnh cần duy trì sự thận trọng, không tự ý phối hợp để bảo vệ an toàn cho hệ tuần hoàn.