Cây mắm (đặc biệt là mắm đen, tên khoa học Avicennia marina) là loài thực vật quen thuộc dọc các dải rừng ngập mặn và cửa biển nước ta. Trong dân gian, nhiều người vẫn truyền tai nhau kinh nghiệm thu hái lá, vỏ hoặc rễ mắm tự nhiên về sắc nước uống hoặc dùng làm dược liệu để hỗ trợ điều trị một số chứng bệnh. Thói quen sử dụng cây cỏ tự nhiên hái trực tiếp từ môi trường hoang dã vốn được coi là lành tính, nhưng với thảm thực vật vùng ngập mặn, điều này tiềm ẩn nguy cơ sức khỏe khôn lường.
Câu trả lời dứt khoát từ góc độ khoa học: Việc tự ý thu hái cây mắm biển làm thuốc có thể dẫn tới rủi ro ngộ độc mạn tính kim loại nặng. Bùn ngập mặn là nơi lắng đọng chất thải công nghiệp và cảng biển, trong khi loài cây này lại có khả năng tích lũy mạnh các độc chất nguy hiểm như chì, cadimi và crom.
Cây mắm biển: "Bọt biển" hút chất độc từ bùn ngập mặn
Vùng rừng ngập mặn ven biển đóng vai trò như một bộ lọc tự nhiên tiếp nhận các dòng chảy từ lục địa ra biển. Do các hoạt động xả thải từ công nghiệp, khai khoáng và vận tải cảng biển, lớp bùn lắng tầng mặt thường tích lũy một lượng rất lớn các kim loại nặng [1, 7]. Trầm tích bùn ngập mặn giữ lại lượng kim loại nhiều hơn so với các bãi bùn thông thường [1].
Khi sinh trưởng trên nền trầm tích này, cây mắm biển (Avicennia marina) hoạt động như một cỗ máy hút khoáng chất mạnh mẽ. Rễ cây tiếp xúc trực tiếp với bùn đất bị ô nhiễm và hấp thu các kim loại độc hại [7, 8]. Nhiều nghiên cứu quốc tế đã xác nhận loài cây này có khả năng chỉ thị sinh học và xử lý ô nhiễm môi trường (phytoremediation), đồng nghĩa với việc các mô của cây chính là nơi giữ lại chất độc [1, 3, 6].
Cơ chế tích tụ và vận chuyển độc tố trong mô cây
Hệ rễ của cây mắm phát triển khả năng dung nạp rất cao đối với các kim loại nặng trong môi trường [2]. Các kim loại độc hại sau khi xâm nhập qua rễ sẽ được lưu giữ tại đây hoặc tiếp tục vận chuyển lên thân và lá [3, 7]. Mức độ tích lũy kim loại ở rễ cây thường cao hơn nhiều so với lá và thân [5, 7, 8].
Tuy nhiên, khả năng ngăn chặn kim loại độc di chuyển lên tán lá không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Khi nồng độ kim loại trong bùn vượt ngưỡng kiểm soát, độc chất sẽ xuyên qua màng sinh học và đi vào lá cây [2]. Chẳng hạn, trong điều kiện phòng thí nghiệm, chì bị giữ lại ở rễ nhưng khi nồng độ chì trong trầm tích vượt quá 400 microg/g, quá trình vận chuyển chì lên mô lá bắt đầu diễn ra [2]. Đối với kẽm và đồng, quá trình đưa kim loại lên lá diễn ra tỷ lệ thuận theo nồng độ ô nhiễm của rễ và trầm tích [2].
Tại những khu vực chịu áp lực ô nhiễm nặng, lá cây mắm thậm chí còn bị biến đổi cấu trúc giải phẫu. Khảo sát vi thể cho thấy lá cây bị ẩm mọng, phình to vùng thịt lá và tầng cutin bề mặt dày lên kèm theo các hạt lắng đọng kim loại nặng nhìn thấy rõ [3]. Điều này cho thấy kim loại nặng không chỉ dừng lại ở rễ mà phân tán vào cả các bộ phận thường được người dân thu hái.
Bằng chứng từ các nghiên cứu quốc tế về cây mắm
Hàng loạt nghiên cứu tại các vùng biển ô nhiễm trên thế giới đã ghi nhận mức độ tích tụ kim loại đáng báo động ở loài mắm biển:
Nghiên cứu công bố năm 2025 tại luồng vào cảng Visakhapatnam và rừng ngập mặn Coringa (Ấn Độ) tiến hành trên cây mắm biển Avicennia marina trong tự nhiên và nhà kính kiểm soát [3]. Kết quả phân tích khối phổ plasma (ICP-MS) và kính hiển vi huỳnh quang cho thấy chỉ số rủi ro sinh thái tiềm ẩn (RI) của cadimi (Cd) ở mức rất cao, crom (Cr) và chì (Pb) cũng ở mức rủi ro đáng kể [3]. Hệ số rủi ro sinh thái tiềm ẩn (Eir) xếp Cd vào nhóm nguy cơ cao ở tất cả các trạm quan trắc do hoạt động cảng biển và khu công nghiệp lân cận [3].
Một nghiên cứu năm 2020 tại đầm phá Rabigh (Biển Đỏ, Ả Rập Xê Út) đánh giá trên 8 trạm khảo sát [4]. Hàm lượng sắt (Fe) ghi nhận cao nhất lên tới 8939,38 +- 312,63 mg/kg tại trạm S4 [4]. Hệ số tích lũy ô nhiễm (CF) tăng dần theo thứ tự đồng (Cu) < Cr < mangan (Mn) < kẽm (Zn) < Fe < niken (Ni) < Pb < Cd, cho thấy Pb và Cd có mức độ tích lũy ô nhiễm trầm trọng nhất [4]. Chỉ số tải lượng ô nhiễm (PLI) ghi nhận cao tại các trạm S6, S4 và S3 [4]. Dù hệ số tích lũy sinh học (BCF) nhỏ hơn 1, nghiên cứu tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa giữa nồng độ kim loại trong trầm tích và trong lá mắm biển [4].
Tại đảo Farasan thuộc Biển Đỏ, nghiên cứu năm 2013 thu thập mẫu trầm tích và các bộ phận lá, cành, rễ cây mắm tại 5 địa điểm [5]. Nồng độ tối đa và trung bình của Cd, Cu và Pb trong trầm tích đều vượt ngưỡng trung bình thế giới của đá phiến sét [5]. Hàm lượng kim loại trung bình trong các bộ phận của cây mắm dao động: Cu từ 256,0 đến 356,6 mg/kg, Zn từ 29,5 đến 36,8 mg/kg, Cr từ 8,15 đến 14,9 mg/kg, Ni từ 1,37 đến 4,02 mg/kg, và Cd từ mức không phát hiện đến 1,04 mg/kg [5]. Với hệ số tích tụ sinh học BCF và hệ số chuyển vị TF đều lớn hơn 1 đối với đồng, mắm biển được xếp vào nhóm thực vật tích lũy Cu hiệu quả cao ở các bộ phận trên mặt đất [5].
Nghiên cứu năm 2021 tại Vịnh Kachchh (Ấn Độ) khảo sát kim loại độc hại trên trầm tích bề mặt và cây Avicennia marina [6]. Khoảng 72% các điểm lấy mẫu nằm trong nhóm rủi ro sinh thái cao [6]. Kim loại độc hại tập trung ở rễ nhiều hơn ở lá, nhưng hệ số tích tụ sinh học BCF ở mức cao đã được ghi nhận với Pb, Cu, molyben (Mo) và Zn [6]. Cây mắm tại đây cho thấy hiệu quả chuyển vị cao (TF lớn) đối với Cu và Zn tại toàn bộ các điểm khảo sát, đồng thời chuyển vị cả asen (As), Ni, Pb, Fe, stronti (Sr) và Mn lên thân lá ở một số điểm [6].
Nghiên cứu năm 2025 tại khu vực Myeik (Myanmar), nơi chịu tác động từ hoạt động khai khoáng và nông nghiệp, đã phân tích lá, rễ cây mắm và trầm tích [1]. Nồng độ trung bình các nguyên tố không thiết yếu trong trầm tích ghi nhận ở mức rất cao: As đạt 83,2 +- 21,4 mg/kg; Cd đạt 3,16 +- 0,58 mg/kg; coban (Co) đạt 25,6 +- 4,3 mg/kg; Cr đạt 55,1 +- 14,2 mg/kg; và Pb đạt 87 +- 18 mg/kg [1]. Cây mắm biển tại Myeik có hệ số tích tụ BCF cao đối với Cd và Cu [1].
Nghiên cứu tại vịnh Pattani (Thái Lan) năm 2018 chỉ ra rằng rễ cây mắm biển tích lũy lượng lớn chì và phóng xạ với hệ số BCF và TF đối với Pb lớn hơn 1 [7]. Nghiên cứu cảnh báo các chất độc hại và phóng xạ có thể đi vào chuỗi thức ăn thông qua việc hấp thụ của thực vật, gây hại trực tiếp cho sức khỏe con người [7].
Mối nguy ngộ độc mạn tính từ kim loại nặng
Nguy cơ lớn nhất khi dùng dược liệu tự hái từ cây mắm biển chính là ngộ độc kim loại nặng mạn tính. Khác với ngộ độc cấp tính gây nôn mửa hoặc tiêu chảy ngay lập tức, ngộ độc mạn tính xảy ra âm thầm khi độc chất tích tụ dần trong cơ thể qua từng ngày uống nước sắc.
Cadimi (Cd) và chì (Pb) là hai kim loại xuất hiện xuyên suốt trong các cảnh báo nguy cơ sinh thái cao ở cây mắm biển [1, 2, 7]. Chì khi vào cơ thể sẽ thay thế canxi, lắng đọng trong xương và gây độc cho hệ thần kinh, thận và cơ quan tạo máu. Trong khi đó, cadimi tích tụ lâu dài ở thận, làm suy giảm chức năng lọc và gây loãng xương. Việc đun sôi hay sắc thuốc theo phương pháp truyền thống không thể phân hủy hay loại bỏ được các ion kim loại nặng này.
Hiểu lầm thường gặp về thảo dược tự nhiên ven biển
Nhiều người tin rằng thảo dược mọc hoang dã tự nhiên luôn tinh khiết, sạch sẽ hơn cây trồng nông nghiệp. Đây là quan niệm rất sai lầm đối với thực vật ngập mặn. Môi trường bùn biển là bể chứa chất thải lắng đọng; do đó cây mọc tự nhiên tại đây lại là đối tượng tích tụ chất độc cao nhất [1, 5].
Một hiểu lầm khác là chỉ cần rửa sạch bề mặt lá hoặc phơi khô là có thể loại bỏ chất độc. Dữ liệu khoa học đã chứng minh các kim loại nặng được hấp thu vào bên trong cấu trúc tế bào, mô thịt lá và rễ cây [1, 4, 7]. Việc rửa bằng nước lã chỉ làm sạch lớp bùn bám ngoài chứ không thể giải phóng các kim loại đã liên kết bên trong mô thực vật.
Những ai cần tuyệt đối thận trọng?
Mọi người dân đều không nên tự ý thu hái cây mắm biển tự nhiên để làm thuốc hoặc chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, các đối tượng sau cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước nguy cơ nhiễm độc kim loại nặng:
Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Chì và cadimi có thể truyền qua nhau thai hoặc sữa mẹ, gây tổn thương nghiêm trọng đến sự phát triển não bộ và hệ thần kinh non nớt của thai nhi và trẻ nhỏ. Hiện chưa có nghiên cứu kiểm chứng độ an toàn của cây mắm trên nhóm này, nhưng dữ liệu ô nhiễm kim loại trên cây là mối đe dọa trực tiếp [1, 6].
Người có tiền sử bệnh thận hoặc suy giảm chức năng gan: Thận và gan là hai cơ quan đảm nhận đào thải độc chất. Khi các kim loại nặng từ dược liệu tích tụ thêm, tình trạng suy thận và tổn thương tế bào gan sẽ tiến triển rất nhanh.
Người cao tuổi và trẻ nhỏ: Đây là nhóm có hệ thống enzyme giải độc kém và sức đề kháng yếu trước các tác nhân gây độc tế bào.
Lời khuyên áp dụng thực tế và an toàn
Nếu có nhu cầu sử dụng thảo dược hay các bài thuốc y học cổ truyền, người dân tuyệt đối không tự ý đến các bãi bồi, cửa biển để chặt rễ, hái lá mắm về dùng. Hãy lựa chọn các nguồn dược liệu đã được chuẩn hóa, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và được kiểm nghiệm giới hạn kim loại nặng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.
Khi có các vấn đề sức khỏe, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa để thăm khám và dùng thuốc theo đơn của bác sĩ. Không tự ý thay thế phác đồ điều trị chính thống bằng các loại cây cỏ truyền miệng từ vùng nước ngập mặn. Nếu từng sử dụng cây mắm tự hái kéo dài và xuất hiện các dấu hiệu mệt mỏi, đau bụng âm ỉ, thiếu máu hoặc suy giảm chức năng thận, cần đến bệnh viện kiểm tra nồng độ kim loại nặng trong máu và nước tiểu.
Cây mắm biển là loài thực vật vô giá đối với việc bảo vệ đê điều và hấp thu ô nhiễm cho hệ sinh thái ven bờ. Nhưng chính "nhiệm vụ" hút chất độc của chúng lại biến loài cây này thành mối nguy hại tiềm ẩn đối với sức khỏe nếu con người đưa chúng vào cơ thể mà thiếu hiểu biết khoa học.


