Nước tiểu thường bị coi là chất thải bỏ đi. Trong dân gian từng có những đồn thổi vô căn cứ về việc uống nước tiểu để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể. Dưới góc nhìn y học hiện đại, nước tiểu thô hoàn toàn không có tác dụng trị bệnh theo cách truyền miệng này.
Ứng dụng y khoa thực tế duy nhất liên quan đến chất thải này là việc tách chiết một loại enzym quý giá mang tên urokinase. Đây là hoạt chất tiêu sợi huyết quan trọng được sử dụng tại các bệnh viện để phá vỡ các cục máu đông nguy hiểm [1].
Urokinase là gì và cơ chế tác động ra sao?
Urokinase là một loại enzym protein được chiết xuất chủ yếu từ nước tiểu của người khỏe mạnh hoặc thu từ nuôi cấy mô thận người [1]. Thuốc không có tính kháng nguyên và có thời gian bán thải tương đối ngắn trong cơ thể [1].
Khi đi vào hệ tuần hoàn, urokinase tác động trực tiếp lên hệ thống tiêu sợi huyết nội sinh [1]. Cụ thể, enzym này xúc tác quá trình phân cắt biến đổi plasminogen thành plasmin, từ đó phân hủy mạng lưới fibrin của cục máu đông [1].
Tuy nhiên, urokinase chỉ tác dụng tốt lên các cục máu đông mới hình thành, còn đối với các cục huyết khối cũ thì mức độ tác động rất thấp [1]. Do đó, hiệu quả phá hủy huyết khối phụ thuộc lớn vào thời gian hình thành mảng máu đông [2].
Hiệu quả trong nhồi máu não cấp khi đặt cạnh thuốc thế hệ mới
Trong điều trị lâm sàng nhồi máu não cấp, tiêu huyết khối đường tĩnh mạch là biện pháp xử trí chủ yếu nhờ thao tác đơn giản và giá thành thấp, trong đó urokinase là một thuốc thường dùng [1]. Dù vậy, các bằng chứng lâm sàng cho thấy thuốc còn những điểm cần cải thiện khi so sánh với thuốc tiêu sợi huyết thế hệ hai như alteplase [1].
Một nghiên cứu công bố năm 2022 trên bệnh nhân nhồi máu não cấp chỉ ra rằng nhóm điều trị bằng alteplase đạt tỷ lệ hiệu quả tổng thể vượt trội so với nhóm dùng urokinase [1]. Điểm số chức năng thần kinh (NIHSS) và điểm đánh giá tâm thần (MMSE) ở nhóm dùng alteplase cũng cải thiện tốt hơn rõ rệt (p < 0.05) [1].
Nghiên cứu của Liu trên 98 bệnh nhân cũng ghi nhận kết quả tương đồng: tỷ lệ điều trị hiệu quả ở nhóm dùng alteplase đạt 95,92%, cao hơn nhiều so với mức 81,63% của nhóm dùng urokinase [1]. Như vậy, dù urokinase vẫn đóng vai trò quan trọng nhờ tính sẵn có và chi phí thấp, alteplase cho hiệu quả làm tan huyết khối nhanh và vượt trội hơn [1].
Ứng dụng điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu và tĩnh mạch dưới đòn
Urokinase được ứng dụng rộng rãi trong xử trí huyết khối tĩnh mạch. Trong một báo cáo năm 1981 trên 18 trường hợp tắc tĩnh mạch dưới đòn - nách nguyên phát, bệnh nhân được điều trị tiêu sợi huyết bằng urokinase kết hợp heparin [2]. Phác đồ sử dụng liều nạp ban đầu 150.000-250.000 IU urokinase, sau đó duy trì 1.000-2.000 IU/kg/giờ phối hợp heparin 15-17 U/kg/giờ [2]. Kết quả ghi nhận ở 9 trong số 11 bệnh nhân (82%) có cục huyết khối mới hình thành dưới 8 ngày, lòng mạch gần như tái thông hoàn toàn [2]. Ngược lại, trường hợp huyết khối kéo dài trên 10 ngày không thấy thay đổi, và không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng [2].
Nghiên cứu hồi cứu năm 1987 trên 60 bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu (30 ca dùng urokinase, 30 ca dùng streptokinase) cho thấy streptokinase gây tiêu giảm fibrinogen mạnh hơn (giảm 83% so với 61% ở nhóm urokinase, p = 0.01) [3]. Tuy nhiên, nhóm streptokinase có 5/30 ca (17%) gặp biến chứng nặng, trong khi nhóm dùng urokinase không gặp biến chứng lớn nào (p = 0.019) [3]. Phân tích kinh tế cho thấy urokinase an toàn hơn, hiệu quả và tối ưu chi phí hơn khi tính cả chi phí xử lý biến chứng [3].
Một thử nghiệm năm 1983 trên 33 bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch chậu - đùi cấp tính chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm: nhóm urokinase mô nuôi cấy liều 2.200 IU/kg/giờ, nhóm urokinase liều 1.100 IU/kg/giờ (sau liều nạp 4.400 IU/kg trong 10 phút, truyền xen kẽ 12 giờ với heparin), và nhóm dùng streptokinase [4]. Sau 3 ngày, hình ảnh chụp tĩnh mạch ghi nhận cải thiện ở 5/10 ca nhóm urokinase liều cao, 7/11 ca nhóm liều thấp và 6/10 ca nhóm streptokinase [4]. Nghiên cứu chỉ ra phác đồ truyền ngắt quãng không mang lại ưu thế vượt trội, song nhóm dùng urokinase gặp ít phản ứng bất lợi hơn [4].
Tan huyết khối tĩnh mạch thận và van tim nhân tạo
Urokinase cũng mang lại kết quả rõ nét trong các ca bệnh huyết khối phức tạp tại cơ quan nội tạng. Một báo cáo lâm sàng năm 1997 mô tả bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch thận hai bên do mất nước sau viêm dạ dày ruột do virus, dẫn đến tổn thương thận cấp với creatinin huyết thanh 1,7 mg/dL và protein niệu 24 giờ lên tới 2,34 g [5].
Bệnh nhân được tiêm nạp tĩnh mạch urokinase liều 4.400 U/kg, sau đó truyền liên tục 4.400 U/kg/giờ trong 12 giờ kết hợp heparin 1.000 U/giờ, giúp huyết khối tan một phần [5]. Sau đợt truyền urokinase 12 giờ tiếp theo ở liều 5.000 U/kg/giờ, bệnh nhân hết đau bụng hông, protein niệu 24 giờ giảm sâu còn 60 mg, độ thanh thải creatinin bình thường và không tái phát suốt 2,5 năm theo dõi [5].
Trong điều trị huyết khối van tim nhân tạo, nghiên cứu năm 2020 trên 23 bệnh nhân áp dụng liều nạp tĩnh mạch 250.000 IU urokinase, sau đó truyền tĩnh mạch 100.000 IU/giờ trong 10 giờ mỗi ngày kèm thuốc chống đông heparin trọng lượng phân tử thấp tối đa 5 ngày [6]. Kết quả có 16/23 bệnh nhân (69,6%) tan huyết khối thành công hoàn toàn (100% van động mạch chủ và 66,7% van hai lá), thành công một phần đạt 13% [6].
Tuy nhiên, thủ thuật tiềm ẩn rủi ro: 2 ca xuất huyết vi thể đường tiểu, 1 bệnh nhân tử vong vì xuất huyết não nặng kèm sốc, tổng tỷ lệ tử vong là 13% (3/23 ca, bao gồm 2 ca tử vong sau phẫu thuật tiếp sau đó) [6].
Dự phòng và hỗ trợ điều trị hội chứng thận hư
Tình trạng tăng đông máu là biến chứng nguy hiểm ở người mắc hội chứng thận hư. Nghiên cứu năm 1989 trên 20 trường hợp hội chứng thận hư nguyên phát được điều trị bằng urokinase liều 60.000 đơn vị mỗi ngày trong 2 tuần liên tiếp [7]. Sau điều trị, nồng độ fibrinogen, FDP niệu, chất ức chế alpha 2-plasma và plasminogen giảm đáng kể, trong khi nồng độ antithrombin III tăng rõ rệt (p < 0.05), giúp cải thiện rõ rệt tình trạng tăng đông và giảm protein niệu [7].
Đối với đối tượng trẻ em, nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu đa trung tâm năm 2024 khảo sát 370 bệnh nhi mắc hội chứng thận hư nguyên phát từ năm 2018 đến 2022 [8]. Trong đó, 313 trẻ được dùng urokinase bổ trợ dự phòng và 57 trẻ không dùng [8].
Kết quả cho thấy nhóm không dùng urokinase ghi nhận 2 biến cố huyết khối nặng (1 ca thuyên tắc phổi kèm huyết khối thất phải, 1 ca huyết khối tĩnh mạch nội sọ), trong khi nhóm dùng urokinase dự phòng không xuất hiện biến cố huyết khối nào (p = 0.02) [8]. Nhóm dùng urokinase xuất hiện biến cố chảy máu nhẹ nhiều hơn (7 ca so với 1 ca, p = 1.0), nhưng hoàn toàn không ghi nhận biến cố chảy máu lớn ở cả hai nhóm, chứng minh tính an toàn khi dự phòng hợp lý [8].
Hiểu lầm thường gặp và rủi ro xuất huyết
Nhiều người lầm tưởng việc sử dụng nước tiểu nguyên chất có thể phòng ngừa tắc mạch hoặc mang lại lợi ích sức khỏe. Thực tế, urokinase trong nước tiểu tồn tại ở lượng cực nhỏ, lẫn nhiều tạp chất và độc chất cơ thể đào thải ra ngoài. Urokinase y khoa bắt buộc phải trải qua quá trình chiết tách công nghiệp, tinh chế nghiêm ngặt hoặc nuôi cấy tế bào thận người trong môi trường vô trùng mới đạt tiêu chuẩn tiêm truyền tĩnh mạch [1]. Tuyệt đối không được uống hay dùng nước tiểu thô cho bất kỳ mục đích chữa bệnh nào.
Bên cạnh đó, vì là thuốc làm tiêu cục máu đông nên nguy cơ xuất huyết là biến chứng luôn phải đối mặt. Nghiên cứu thực tế cho thấy bệnh nhân dùng urokinase có thể gặp xuất huyết vi thể đường tiểu hoặc biến chứng xuất huyết nội sọ nặng đe dọa tính mạng [6]. Thuốc chỉ phát huy tác dụng tốt nhất trên các huyết khối mới hình thành, ít hiệu quả với huyết khối cũ [1, 6].
Ai nên thận trọng và cách áp dụng thực tế
Urokinase là thuốc kê đơn đặc biệt nguy hiểm nếu sử dụng sai, chỉ được chỉ định và theo dõi sát sao bởi bác sĩ chuyên khoa tại các cơ sở y tế có đầy đủ trang thiết bị cấp cứu. Những đối tượng có nguy cơ chảy máu cao, người vừa trải qua phẫu thuật lớn hoặc có tiền sử xuất huyết não cần được đánh giá hết sức cẩn trọng trước khi can thiệp [6].
Việc sử dụng thuốc phải dựa trên liều lượng chuẩn xác và theo dõi qua các chỉ số đông máu như thời gian prothrombin (PT), chỉ số INR cũng như siêu âm đánh giá dòng máu định kỳ [6]. Người bệnh khi có các triệu chứng nghi ngờ tắc mạch như đau tức ngực, khó thở đột ngột, yếu liệt tay chân hoặc sưng đau một bên chi dưới cần đến ngay bệnh viện để được chẩn đoán và xử trí trong "cửa sổ thời gian vàng", tránh tự ý điều trị làm chậm trễ cơ hội cứu vãn tính mạng.
