Cục máu đông là mối lo ngại lớn dẫn đến các biến cố tim mạch và đột quỵ nguy hiểm. Trong dân gian, nhiều người truyền tai nhau dùng vị thuốc huyết kiệt để uống với hy vọng làm tan biến các khối huyết nguy hiểm này. Tuy nhiên, việc tự ý dùng một vị thuốc đông y để xử lý huyết khối tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn.

Khẳng định huyết kiệt có thể "uống để làm tan cục máu đông" là chưa có cơ sở khoa học xác thực ở người. Dù các chiết xuất từ huyết kiệt cho thấy khả năng ức chế ngưng tập tiểu cầu và ngừa tạo huyết khối trong phòng thí nghiệm, chưa có thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh dược liệu này có thể làm tan cục máu đông đang tồn tại trên cơ thể người.

Cơ chế chống đông và tiêu huyết khối: Hiểu đúng bản chất

Trong y học hiện đại, việc xử lý cục máu đông chia thành hai nhóm tác động rõ rệt: ngừa huyết khối hình thành và tiêu cục máu đông đã có. Nhóm ngừa huyết khối tác động vào quá trình kết tập tiểu cầu hoặc các yếu tố đông máu. Nhóm thuốc tiêu sợi huyết chuyên biệt mới có khả năng phá vỡ cấu trúc mạng lưới fibrin của cục máu đông cấp tính.

Huyết kiệt là phần nhựa màu đỏ thu được chủ yếu từ các loài thực vật thuộc chi Dracaena hoặc loài Daemonorops draco [1, 4]. Dược liệu này đã được sử dụng hơn 1000 năm trong nhiều nền y học cổ truyền như Ả Rập, châu Phi, Trung Quốc và Thái Lan nhằm mục đích làm lành vết thương, giảm đau, cầm máu và chữa các bệnh lý như tiêu chảy, kiết lỵ, viêm loét [1].

Hơn 300 hợp chất đã được phân lập từ các loài Dracaena, chủ yếu gồm flavonoids, steroids và phenolics [1]. Các hợp chất này thể hiện nhiều đặc tính dược lý như chống viêm, giảm đau, chống huyết khối, chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống đái tháo đường và chống ung thư [1]. Những đặc tính này giải thích cho khả năng điều hòa lưu lượng máu hai chiều và phòng ngừa các bệnh tim mạch, mạch máu não trong y học dân gian [1]. Tuy nhiên, ức chế kết tập tiểu cầu hay chống đông máu trong ống nghiệm hoàn toàn khác với việc "tiêu tan" một khối máu đông thực thể.

Nghiên cứu thực nghiệm về khả năng chống huyết khối

Để làm rõ các tác dụng được lưu truyền, nhiều thực nghiệm dược lý học đã được triển khai trên mô hình tế bào và động vật.

Một nghiên cứu công bố năm 2011 đã khảo sát hoạt tính của huyết kiệt từ loài Dracaena cochinchinensis thu hái tại Vân Nam, Trung Quốc [2]. Các nhà nghiên cứu dùng quy trình điều chế mới để tách chiết thành phần hiệu quả và so sánh hai phân đoạn: phân đoạn chiết xuất bằng ethanol 95% (kí hiệu EA) và phân đoạn kết tủa (kí hiệu PB) [2]. Thử nghiệm được tiến hành trên mô hình chuột cống và chuột nhắt bị huyết khối và ứ huyết [2]. Kết quả cho thấy phân đoạn EA ức chế tốt hơn đáng kể so với phân đoạn PB đối với sự hình thành huyết khối (p < 0.05), chức năng kết tập tiểu cầu (p < 0.01) và hoạt tính chống đông máu (p < 0.05 - 0.01) [2]. Nghiên cứu đi đến kết luận rằng phân đoạn chiết xuất ethanol từ huyết kiệt chứa các hợp chất có hoạt tính chống huyết khối, cải thiện một phần chức năng tiểu cầu và hoạt tính chống đông máu [2].

Cũng trong năm 2011, một nghiên cứu khác tiến hành so sánh thành phần hóa học và tác dụng chống kết tập tiểu cầu của hai nguồn dược liệu cùng mang tên "huyết kiệt" trong y học cổ truyền: nhựa từ cây Daemonorops draco (RDD) và nhựa từ cây Dracaena cochinchinensis (RDC) [3]. Phân tích dấu vân tay hóa học bằng phương pháp UPLC-MS cho thấy cấu tạo hóa học của hai loài khác biệt rõ rệt, trong đó thành phần đặc trưng của RDD là flavanes, còn RDC chủ yếu chứa stilbenes [3].

Thử nghiệm đánh giá ức chế ngưng tập tiểu cầu do acid arachidonic kích thích cho thấy sự khác biệt về dược lực [3]. Trong thử nghiệm in vivo trên chuột cống với liều lượng 200 mg/kg, hiệu quả ức chế kết tập tiểu cầu đỉnh của RDD đạt 35,8%, trong khi RDC đạt 27,6% so với nhóm đối chứng [3]. Ở thử nghiệm in vitro với các nồng độ 0,2; 0,4 và 0,8 mg/ml, RDD ức chế ngưng tập tiểu cầu lần lượt là 18,7%, 20,0% và 61,6%; còn RDC ức chế ngưng tập lần lượt là 13,3%, 20,2% và 31,6% [3]. Cả hai thử nghiệm cho thấy RDD có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu mạnh hơn RDC [3].

Hiệu quả bảo vệ tim mạch và mô não trong mô hình tổn thương thiếu máu

Bên cạnh tác động lên tiểu cầu, một số nghiên cứu trên động vật khảo sát thêm phản ứng bảo vệ tế bào khi xảy ra tình trạng tắc mạch hoặc tổn thương mô cấp tính.

Một nghiên cứu công bố năm 2018 kiểm tra tác dụng bảo vệ tim của chiết xuất huyết kiệt (DBE) từ loài Dracaena cochinchinensis trên mô hình chuột nhắt bị nhồi máu cơ tim cấp tính [4]. Mô hình được tạo lập bằng cách thắt động mạch vành liên thất trước (LAD) [4]. Chiết xuất DBE được cho chuột uống liên tục trong 7 ngày trước khi tiến hành phẫu thuật tạo nhồi máu [4]. Kết quả siêu âm tim 2D cho thấy DBE giúp cải thiện chức năng tim của chuột [4].

Đồng thời, chiết xuất này điều hòa nồng độ các enzyme tim CK-MB và LDH1 trong huyết thanh, khôi phục lại sự cân bằng giữa chất gây co mạch TXB2 và chất giãn mạch 6-keto-PGF1alpha trong huyết tương [4]. Phân tích mô tim cho thấy DBE ức chế phản ứng viêm thông qua điều hòa biểu hiện các protein chủ chốt của con đường tín hiệu IL-6-JAK2/STAT3 và kích hoạt con đường tín hiệu PI3K-AKT-mTOR, từ đó điều hòa các đích tác động hạ lưu như VEGF, COX2 và PPARgamma [4]. Nghiên cứu chứng minh chiết xuất huyết kiệt kích hoạt hai con đường JAK2-STAT3 và PI3K-AKT-mTOR để đem lại hiệu quả bảo vệ tim trước tổn thương thiếu máu [4].

Ở tổn thương mạch máu não, một nghiên cứu năm 2013 đã chế tạo viên nhỏ giọt (dropping pills) từ các hợp chất phenolic của huyết kiệt loài Dracaena cochinchinensis để thử nghiệm trên chuột cống bị thiếu máu não cục bộ cục bộ tạo bởi phương pháp tắc động mạch não giữa (MCAO) [5]. Nhóm nghiên cứu chia làm các mức liều cao, trung bình và thấp [5]. Kết quả chỉ ra cả ba nhóm dùng viên nhỏ giọt huyết kiệt đều cải thiện đáng kể điểm số chức năng thần kinh (p < 0.01) và giảm rõ rệt thể tích ổ nhồi máu não (p < 0.05 - 0.01) [5]. Đồng thời, các nhóm liều đều làm giảm lượng nước trong não và chỉ số não (p < 0.05 - 0.01), điều hòa tình trạng stress oxy hóa (p < 0.05 - 0.01) [5]. Hoạt tính của nhóm dùng liều trung bình tương đương với nhóm điều trị bằng thuốc đối chứng dương [5].

Lợi ích thực tế và giới hạn lớn của bằng chứng hiện có

Dù các nghiên cứu ghi nhận huyết kiệt có đặc tính kháng viêm, giảm tổn thương mô và hạn chế kết tập tiểu cầu, ranh giới giữa nghiên cứu tiền lâm sàng và ứng dụng thực tiễn trên người còn rất xa.

Điểm giới hạn lớn nhất là toàn bộ dữ liệu về khả năng ức chế kết tập tiểu cầu, chống huyết khối và hỗ trợ thiếu máu cục bộ nêu trên đều thực hiện trên chuột cống, chuột nhắt hoặc trên tế bào [2, 3, 4, 8]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên nào trên người xác minh huyết kiệt có thể làm tan cục máu đông hay thay thế được các phác đồ tiêu sợi huyết hiện đại.

Hơn nữa, trong các mô hình nhồi máu cơ tim, chiết xuất huyết kiệt được dùng trước khi gây tắc mạch 7 ngày như một biện pháp bảo vệ tế bào trước [4]. Điều này hoàn toàn khác biệt với tình huống cấp cứu lâm sàng khi một người đã hình thành cục máu đông gây tắc mạch cấp. Người dân không thể coi huyết kiệt là thuốc cấp cứu hay biện pháp làm tan khối tắc nghẽn mạch máu.

Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên chiết xuất huyết kiệt đang cực kỳ thiếu hụt và một số loài Dracaena đang rơi vào tình trạng bị đe dọa [1]. Cơ chế hình thành nhựa cây trong tự nhiên vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng, gây khó khăn cho việc chuẩn hóa hoạt chất và phát triển bền vững [1].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng huyết kiệt trị bệnh mạch máu

Nhiều người lầm tưởng rằng các vị thuốc có tác dụng "hoạt huyết, tan ứ" trong đông y đồng nghĩa với việc làm tan hoàn toàn cục máu đông như thuốc tiêu sợi huyết hiện đại. Đây là quan niệm sai lầm nguy hiểm. Huyết kiệt trong cổ truyền dùng chủ yếu để làm lành vết thương, giảm đau, cầm máu hoặc hỗ trợ điều hòa tuần hoàn [1, 4]. Khả năng ức chế tiểu cầu chỉ đóng vai trò hỗ trợ cản trở quá trình hình thành huyết khối mới, không đồng nghĩa với khả năng phá hủy một khối máu đông đã hình thành và gây nghẽn mạch.

Một hiểu lầm khác là cho rằng các loại huyết kiệt trên thị trường đều giống nhau. Thực tế nghiên cứu cho thấy hai nguồn huyết kiệt chính từ Daemonorops draco (RDD) và Dracaena cochinchinensis (RDC) có thành phần hóa học khác nhau rõ rệt (một bên giàu flavanes, một bên giàu stilbenes) dẫn tới hiệu lực sinh học trên tiểu cầu chênh lệch nhau [3]. Tự ý mua và sử dụng các sản phẩm trôi nổi không rõ nguồn gốc loài thực vật có thể không đem lại hiệu quả như mong muốn.

Ai nên thận trọng?

Mặc dù tổng quan y văn ghi nhận huyết kiệt chưa thấy báo cáo về độc tính hoặc tác dụng phụ rõ rệt [1], việc sử dụng tùy tiện vị thuốc này vẫn đòi hỏi sự cẩn trọng cao độ.

Những người đang dùng thuốc chống đông máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu (như aspirin, clopidogrel) không được tự ý uống huyết kiệt. Do huyết kiệt có hoạt tính ức chế ngưng tập tiểu cầu và ảnh hưởng hoạt tính chống đông [3, 4], việc kết hợp bừa bãi có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết khó kiểm soát.

Những người nghi ngờ hoặc đang có biến cố tắc mạch cấp tính như nhồi máu cơ tim, đột quỵ thiếu máu não cần được đưa đến cơ sở y tế khẩn cấp trong khung "giờ vàng" để dùng thuốc tiêu huyết khối hoặc can thiệp mạch theo phác đồ khoa học. Tuyệt đối không cho bệnh nhân uống nước sắc hay bột huyết kiệt tại nhà vì sẽ làm lỡ mất thời gian cấp cứu sinh mạng. Phụ nữ mang thai, người đang bị xuất huyết tiêu hóa hoặc chuẩn bị phẫu thuật cũng cần tránh xa các dược liệu có hoạt tính chống đông khi chưa có chỉ định y khoa.

Áp dụng an toàn trong đời sống

Huyết kiệt là một dược liệu quý có lịch sử lâu đời và nhiều tiềm năng sinh học [1]. Tuy nhiên, để sử dụng an toàn, người dân cần tuân thủ các nguyên tắc y tế:

Chỉ sử dụng các chế phẩm huyết kiệt có nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm định của cơ quan quản lý dược phẩm để tránh nhầm lẫn giữa các loài thực vật [3]. Liều lượng và thời điểm dùng cần tuân theo hướng dẫn ghi trên nhãn sản phẩm được cấp phép hoặc theo đơn của bác sĩ y học cổ truyền. Các tài liệu nghiên cứu hiện tại không đưa ra liều dùng tùy tiện cho người khỏe mạnh tự bổ sung nhằm mục đích làm sạch mạch máu.

Khi gặp các vấn đề về tim mạch, huyết khối tĩnh mạch hay xơ vữa động mạch, người bệnh bắt buộc phải thăm khám chuyên khoa tim mạch để được chẩn đoán chính xác mức độ tổn thương và chỉ định thuốc đặc trị. Nếu muốn dùng kết hợp đông dược, luôn thông báo cho bác sĩ điều trị để đánh giá tương tác thuốc.

Nhìn chung, huyết kiệt chứa các hoạt chất có tiềm năng kháng viêm và hỗ trợ ngăn ngừa huyết khối trên mô hình thực nghiệm động vật. Dù vậy, quan niệm uống huyết kiệt để làm tan biến cục máu đông là không chính xác và thiếu bằng chứng lâm sàng. Người dân cần tỉnh táo, không tự ý dùng dược liệu thay thế các biện pháp can thiệp y tế chuẩn xác khi đối mặt với bệnh lý tim mạch và huyết khối.