Cơn sốt rét với các đợt rét run, sốt cao rồi vã mồ hôi từ lâu đã là nỗi ám ảnh tại nhiều vùng đồi núi, rừng rậm nước ta. Trong dân gian, không ít người vẫn truyền tai nhau bài thuốc dùng vỏ cây tai nghé nấu nước uống để cắt cơn sốt và đẩy lùi ký sinh trùng. Liệu phương pháp này có cơ sở khoa học hay chỉ là kinh nghiệm truyền miệng tiềm ẩn nhiều hiểm họa?
Câu trả lời dứt khoát từ lăng kính khoa học là: Chưa có bất kỳ bằng chứng nghiên cứu đáng tin cậy nào chứng minh vỏ cây tai nghé có khả năng tiêu diệt ký sinh trùng sốt rét hay an toàn cho người dùng. Việc tự ý sử dụng các loại vỏ cây rừng để tự chữa bệnh sốt rét là hành động nguy hiểm, có thể dẫn tới sốt rét ác tính và tử vong.
Cơn sốt rét và mẹo dân gian dùng vỏ cây tai nghé
Sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng chi Plasmodium gây ra qua vết đốt của muỗi Anopheles, trong đó chủng Plasmodium falciparum là tác nhân nguy hiểm nhất gây biến chứng nặng [1]. Khi ký sinh trùng xâm nhập vào máu, chúng ký sinh và phá hủy các tế bào hồng cầu, gây ra các đợt sốt chu kỳ, thiếu máu nặng và suy đa cơ quan [2].
Trong bối cảnh y tế trước đây còn thiếu thốn thuốc đặc trị, người dân thường tìm kiếm các loại cây rừng có vị đắng chát để sắc uống hạ sốt. Cây tai nghé là một trong những loài thảo mộc được đồn đoán có tác dụng này. Quan niệm dân gian cho rằng các loại vỏ cây có vị đắng mạnh sẽ giúp "khắc chế" được cơn sốt rừng. Tuy nhiên, hạ thân nhiệt tạm thời không đồng nghĩa với việc tiêu diệt được ký sinh trùng trong máu.
Nghiên cứu khoa học nói gì về các hoạt chất trị sốt rét?
Khi rà soát các nghiên cứu khoa học quốc tế về việc tìm kiếm hợp chất chống sốt rét từ tự nhiên và tổng hợp, vỏ cây tai nghé hoàn toàn không nằm trong danh mục các thảo dược đã được kiểm chứng in vitro (trong ống nghiệm) hay in vivo (trên động vật). Trái lại, các nhà khoa học đã sàng lọc hàng nghìn hợp chất khác để tìm kiếm hoạt chất thực sự có tiềm năng.
Một nghiên cứu công bố năm 2008 về các hợp chất limonoid chiết xuất từ thực vật họ Xoan (Meliaceae) cho thấy anthothecol từ loài Khaya anthotheca thể hiện hoạt tính mạnh chống lại ký sinh trùng Plasmodium falciparum trong nuôi cấy in vitro [3]. Thử nghiệm kết hợp đo độ hấp thu [(3)H]-hypoxanthine sau 48 giờ nuôi cấy xác định nồng độ ức chế 50% ký sinh trùng (IC50) của anthothecol đạt mức 1,4 và 0,17 microM tùy phương pháp thử nghiệm [3]. Một chất khác là gedunin cũng cho giá trị IC50 đạt 3,1 và 0,14 microM, trong khi các limonoid từ chi Cam chanh như limonin và obacunone lại hoàn toàn không có hoạt tính chống ký sinh trùng [3].
Một nghiên cứu khác công bố năm 2014 đánh giá hoạt chất plumbagin – thành phần chính trong rễ cây Plumbago indica Linn [1]. Thử nghiệm in vitro bằng kỹ thuật nhuộm huỳnh quang SYBR Green I ghi nhận plumbagin có giá trị IC50 ức chế chủng P. falciparum 3D7 nhạy cảm chloroquine là 580 nM và chủng K1 kháng chloroquine là 370 nM [1]. Khi thử nghiệm in vivo trên mô hình chuột nhiễm Plasmodium berghei với thử nghiệm ức chế 4 ngày, plumbagin ở liều 25 mg/kg thể trọng mỗi ngày trong 4 ngày cho thấy mức an toàn nhưng hiệu lực chống sốt rét lại rất yếu so với chloroquine [1].
Năm 2001, các nhà nghiên cứu phát hiện kháng sinh polyether X-206 từ chủng xạ khuẩn K99-0413 có khả năng ức chế chọn lọc và rất mạnh đối với cả chủng P. falciparum nhạy cảm và kháng thuốc trong ống nghiệm [2]. Thử nghiệm so sánh hoạt tính in vitro và độc tính tế bào của 12 loại polyether cho thấy các cation hóa trị một đóng vai trò sinh học thiết yếu cho sự phát triển của ký sinh trùng nội hồng cầu [2]. Dù X-206 cho thấy hiệu lực mạnh trên động vật gặm nhấm nhiễm P. berghei, các nhà khoa học nhấn mạnh khoảng an toàn điều trị (therapeutic window) của chất này rất hẹp so với độc tính chọn lọc in vitro [2].
Ngoài ra, một nghiên cứu năm 2011 trên 34 mẫu phân lập lâm sàng Plasmodium falciparum từ bệnh nhân Cameroon cho thấy dẫn xuất indolone-N-oxide (hợp chất 1) có nồng độ IC50 trung bình nhân là 48,6 nM [4]. Hợp chất này có tác dụng ức chế ký sinh trùng phát triển ở giai đoạn thể nhẫn tương tự artesunate mà không cho thấy sự kháng chéo với chloroquine [4].
Cơ chế tác động và vấn đề tương tác thuốc
Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng để tiêu diệt ký sinh trùng sốt rét, các phân tử hoạt chất phải can thiệp trực tiếp vào chu trình chuyển hóa hoặc bảo vệ của ký sinh trùng, ví dụ như quá trình thoái giáng hemoglobin và tạo tinh thể hemozoin [5]. Nghiên cứu năm 2018 sử dụng mô hình dự báo trung bình Bayes (BMA) trên 224 chất ức chế hemozoin cho thấy các đặc tính hóa lý như số nguyên tử lưu huỳnh thấp hay hệ số phân bố log D phù hợp đóng vai trò quyết định hoạt tính chống sốt rét [5].
Bên cạnh đó, các chất chống sốt rét nhóm endoperoxide như artemisinin phát huy độc tính diệt ký sinh trùng thông qua phản ứng tạo chất trung gian hoạt động khi tiếp xúc với ion sắt trong hồng cầu nhiễm bệnh [6]. Một nghiên cứu năm 2005 chỉ ra phản ứng giáng hóa của artemisinin với sắt sulfat xảy ra theo phản ứng bậc hai với hằng số tốc độ k = 18 M(-1) h(-1) trong môi trường dung môi thích hợp [6]. Tương tự, nghiên cứu năm 2001 về các chất tạo phức chelate giữ sắt hydroxypyridinone cho thấy các chất này ức chế ký sinh trùng với IC50 từ 60-70 microM, và khi phối hợp với thuốc sốt rét thông thường chỉ cho kết quả cộng gộp hoặc đối kháng nhẹ [7].
Một thử nghiệm năm 1999 cũng cảnh báo tính chất phức tạp của tương tác thuốc: omeprazole khi kết hợp với quinine cho tác dụng hiệp đồng in vitro, nhưng khi kết hợp với chloroquine lại gây tác dụng đối kháng [8]. Điều này cho thấy việc tự ý sắc nước vỏ cây tai nghé chứa hàng trăm chất lạ chưa được phân lập có thể tương tác bất lợi hoặc phá hủy phác đồ điều trị sốt rét chuẩn.
Cảnh giác nguy cơ độc tính tế bào khi dùng thảo dược chưa kiểm chứng
Một trong những sai lầm phổ biến nhất của người dân là tin rằng "cây cỏ tự nhiên luôn lành tính, không bổ ngang cũng bổ dọc". Trên thực tế, nhiều hợp chất thực vật có hoạt tính diệt ký sinh trùng trong ống nghiệm lại đi kèm độc tính tế bào cực kỳ cao khi đưa vào cơ thể sống.
Khi một loại thảo dược chưa trải qua các thử nghiệm độc tính tế bào, độc tính cấp và bán trường diễn trên động vật, việc uống nước sắc đậm đặc từ vỏ cây có thể trực tiếp phá hủy tế bào biểu mô ruột, tế bào gan và cầu thận. Giống như bài học từ kháng sinh polyether X-206, một chất có thể diệt được ký sinh trùng nhưng khoảng an toàn điều trị quá hẹp vẫn không thể sử dụng trên lâm sàng vì liều có tác dụng chữa bệnh nằm sát liều gây độc cho tế bào vật chủ [2].
Hơn nữa, người bệnh sốt rét vốn đã bị tổn thương tế bào gan, tan máu ồ ạt và suy giảm chức năng thận do độc tố của ký sinh trùng. Việc nạp thêm một lượng lớn tanin, ancaloit và các chất chuyển hóa lạ chưa rõ độc tính từ vỏ cây tai nghé sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng suy đa phủ tạng, dẫn đến ngộ độc cấp tính, bí tiểu và tử vong do suy gan, suy thận.
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Mọi bệnh nhân khi có biểu hiện sốt, đặc biệt là người sinh sống tại hoặc trở về từ vùng có dịch sốt rét lưu hành, đều không được phép tự điều trị bằng vỏ cây tai nghé hay các bài thuốc lá truyền miệng.
Đặc biệt, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền về gan hoặc thận là những đối tượng dễ tổn thương nhất. Việc chậm trễ điều trị thuốc kháng sốt rét tiêu chuẩn trong vòng 24–48 giờ đầu có thể khiến thể bệnh thông thường nhanh chóng chuyển thành sốt rét ác tính thể não, gây co giật, hôn mê sâu và nguy cơ tử vong gần như chắc chắn nếu không được cấp cứu kịp thời.
Lời khuyên áp dụng thực tế
Khi xuất hiện các triệu chứng nghi ngờ sốt rét như ớn lạnh, sốt cao theo chu kỳ, đau đầu dữ dội và vã mồ hôi, người dân cần tuân thủ các bước xử trí y tế chuẩn mực:
- Đến ngay trạm y tế hoặc bệnh viện gần nhất để được lấy máu xét nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét dưới kính hiển vi hoặc làm test chẩn đoán nhanh.
- Tuyệt đối tuân thủ phác đồ thuốc sốt rét đặc hiệu được bác sĩ chỉ định; không tự ý bỏ dở liều khi thấy vừa dứt cơn sốt.
- Không tự ý kết hợp các loại nước sắc thảo dược truyền miệng như vỏ tai nghé chung với thuốc điều trị, nhằm tránh nguy cơ xảy ra tương tác đối kháng thuốc hoặc tăng gánh nặng đào thải cho gan và thận.
- Giữ ấm cơ thể trong cơn rét run, lau mát hạ sốt khi thân nhiệt tăng cao, uống nhiều nước bù điện giải và ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa.
Tóm lại, vỏ cây tai nghé hoàn toàn chưa có bất kỳ bằng chứng khoa học nào xác nhận khả năng trị sốt rét hay đảm bảo an toàn tế bào. Sốt rét là bệnh lý cấp tính nguy hiểm đòi hỏi thuốc can thiệp có cơ chế rõ ràng đã được y học kiểm chứng. Thay vì đánh cược tính mạng vào các bài thuốc dân gian thiếu kiểm chứng, người bệnh cần tin tưởng vào chẩn đoán và hướng dẫn điều trị của các cơ sở y tế chuyên khoa.


