Nhiều người truyền tai nhau rằng các loài cây thuộc chi Xương rồng hay đại kích (như xương rồng ông, phao bông) có khả năng tiêu diệt khối u, chữa khỏi bệnh nan y. Không ít bệnh nhân đã tự ý tìm mua cây tươi về sắc uống hoặc giã nát đắp với hy vọng chặn đứng tế bào ác tính.

Thực tế khoa học cho thấy các hoạt chất chiết xuất từ nhóm thực vật này bước đầu thể hiện độc tính làm chết tế bào ung thư trong ống nghiệm. Tuy nhiên, toàn bộ các phát hiện hiện nay mới dừng lại ở đĩa nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng trên người.

Cơ chế tác động sinh học trong ống nghiệm

Cây thuộc chi Euphorbia (thường được gọi chung trong dân gian là họ xương rồng hay đại kích) chứa nguồn hợp chất tự nhiên phong phú, nổi bật nhất là các dẫn xuất diterpenoid. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, các nhà khoa học tách chiết từng hoạt chất tinh khiết để thử nghiệm trực tiếp lên các dòng tế bào ung thư của người được nuôi cấy nhân tạo.

Ở cấp độ tế bào, một số hoạt chất diterpenoid thể hiện khả năng can thiệp trực tiếp vào chu kỳ sống của tế bào ác tính. Nghiên cứu thực hiện năm 2019 trên hạt của loài Euphorbia lathyris đã làm sáng tỏ cơ chế phân tử này [1]. Các nhà khoa học phát hiện hợp chất diterpenoid có khung lathyrane làm gián đoạn quá trình phân chia tự nhiên, khiến tế bào ung thư bị kẹt lại ở pha G1 và đầu pha S mà không thể nhân đôi [1].

Bên cạnh việc làm ngừng chu kỳ tế bào, các hợp chất này còn tác động vào bộ khung nâng đỡ tế bào. Cụ thể, các chất ký hiệu từ 2 đến 5 chiết từ hạt Euphorbia lathyris gây hiện tượng kết tụ bất thường các sợi actin và gây nhiễu loạn mạng lưới vi ống nội bào [1]. Khi bộ khung xương tế bào bị phá vỡ, tế bào ung thư mất khả năng di chuyển, biến dạng cấu trúc và dần đi vào quá trình chết rụng theo chu trình [1].

Kết quả ghi nhận từ các thử nghiệm in vitro

Để đánh giá mức độ ức chế tế bào ung thư, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các phép thử đo hoạt tính gây độc tế bào như MTT hoặc SRB nhằm xác định chỉ số IC50 (nồng độ cần thiết để ức chế 50% tế bào). Chỉ số IC50 càng nhỏ thể hiện hoạt tính gây độc tế bào càng mạnh ở nồng độ thấp.

Một nghiên cứu công bố năm 2025 đã phân lập 5 hợp chất diterpenoid khung tigliane và premyrsinane mới (đặt tên là euphomonophane A-E) cùng 1 hợp chất đã biết từ toàn cây Euphorbia monostyla [2]. Khi thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư Hela (cổ tử cung), MCF7 (vú) và HCT8 (đại trực tràng), chỉ có hợp chất 4 thể hiện độc tính tế bào ở mức trung bình trên dòng Hela với IC50 đạt 39,86 ± 2,65 µM [2]. Để so sánh, thuốc hóa trị đối chứng Doxorubicin có IC50 mạnh vượt trội ở mức 0,80 ± 0,03 µM, trong khi các hợp chất còn lại hoàn toàn không gây độc trên tế bào MCF7 và HCT8 [2].

Trước đó, vào năm 2018, các nhà khoa học đã phân lập 3 hợp chất ent-abietane diterpenoid mới (euphoroids A-C) và 10 dẫn xuất liên quan từ rễ cây Euphorbia ebracteolata [3]. Kết quả thử nghiệm MTT trên các dòng tế bào ung thư người cho thấy hợp chất 2 và 3 có hoạt tính gây độc tế bào ở mức vừa phải, đặc biệt hợp chất 3 thể hiện tính chất ức chế có chọn lọc đối với một số dòng tế bào ung thư [3].

Năm 2022, một nghiên cứu khác khảo sát rễ cây Euphorbia pekinensis đã tách được 3 hợp chất mới thuộc các nhóm ent-isopimarane, ent-abietane và cembrane (euphopanes A-C) cùng 5 chất đã biết [4]. Khi sàng lọc trên các dòng tế bào ung thư, các hợp chất 1, 2 và 4 đã thể hiện độc tính tế bào đáng kể trên dòng tế bào ung thư tuyến tiền liệt người C4-2B với giá trị IC50 lần lượt là 14,3 µM; 16,9 µM và 15,3 µM [4]. Trước đó, vào năm 2015, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện diterpene mới pekinenin G khung casbane cùng các đồng đẳng từ rễ loài này có hoạt tính độc tế bào khác nhau trên 4 dòng tế bào ung thư người [5].

Năm 2013, các nhà khoa học nghiên cứu rễ cây Euphorbia fischeriana đã phân lập được 4 diterpenoid mới và 7 hợp chất đã biết [6]. Thử nghiệm trên 4 dòng tế bào ung thư (A549, BEL7402, HCT116, MDA-MB-231) ghi nhận 3 diterpenoid khung ingenol (ký hiệu 9, 10, 11) có độc tính tế bào đáng kể đối với dòng ung thư phổi A549 với giá trị IC50 lần lượt là 3,35 µg/mL; 2,85 µg/mL và 2,88 µg/mL [6].

Năm 2021, nghiên cứu trên phần trên mặt đất của cây Euphorbia helioscopia đã chiết xuất được 3 diterpenoid khung jatrophane mới mang tên euphoheliphanes A-C [7]. Thử nghiệm in vitro trên 6 dòng tế bào ung thư thận cho thấy cả 3 hợp chất đều thể hiện hoạt tính độc tế bào với giá trị IC50 dưới 50 µM [7].

Khả năng tác động trên các dòng tế bào kháng thuốc

Kháng thuốc hóa trị là một trong những trở ngại lớn nhất trong điều trị ung thư hiện đại. Một số nghiên cứu trên chi Euphorbia cho thấy triển vọng thú vị của diterpenoid đối với các dòng tế bào đã biến đổi để chống lại thuốc điều trị thông thường.

Trong thử nghiệm năm 2019 trên hạt Euphorbia lathyris, hợp chất 5 thể hiện hoạt tính ức chế mạnh nhất trên toàn bộ các dòng thử nghiệm (A549, MDA-MB-231, KB, MCF-7), trong khi hợp chất 2 cho thấy khả năng ức chế chọn lọc rất đáng chú ý trên dòng tế bào ung thư kháng đa thuốc KB-VIN [1]. Phân tích cấu trúc cho thấy các nhóm thế tại vị trí C-3, C-5, C-7 và C-15 đóng vai trò then chốt quyết định hoạt tính gây độc cũng như tính chọn lọc của hợp chất trên từng loại tế bào [1].

Năm 2022, nghiên cứu trên 27 diterpenoid vòng lớn từ phần trên mặt đất của Euphorbia helioscopia đã phát hiện hiện tượng đặc biệt [8]. Ba hợp chất khung jatrophane gồm euphoscopin C, euphorbiapene D và euphoheliosnoid A thể hiện độc tính tế bào rõ rệt trên dòng tế bào ung thư phổi A549 kháng thuốc paclitaxel với IC50 lần lượt là 6,9 µM; 7,2 µM và 9,5 µM [8]. Ngược lại, chính các chất này lại không có hoạt tính trên dòng tế bào A549 nguyên bản không kháng thuốc (IC50 > 10 µM) [8]. Nghiên cứu cũng xác định các phân tử jatrophane có nhóm thế benzoyloxy hoặc nicotinoyloxy ở vị trí C-7 mang lại hoạt tính ức chế mạnh hơn hẳn các chất chứa nhóm acetyloxy hay hydroxy tại vị trí này [8].

Khoảng cách từ đĩa petri đến cơ thể sống

Mặc dù các số liệu trong phòng thí nghiệm rất chi tiết, người bệnh cần hiểu rõ bản chất của nghiên cứu in vitro (ống nghiệm). Trong đĩa nuôi cấy, hoạt chất tinh khiết được đưa trực tiếp vào môi trường tiếp xúc với tế bào ung thư với nồng độ kiểm soát nghiêm ngặt.

Khi đi vào cơ thể người qua đường tiêu hóa, các phân tử thuốc phải trải qua quá trình hấp thu tại ruột, chuyển hóa qua gan và phân bố trong hệ tuần hoàn. Nhiều hợp chất tự nhiên bị enzyme phân hủy nhanh chóng hoặc không thể vượt qua hàng rào sinh học để tiếp cận khối u.

Độc tính tế bào trong ống nghiệm cũng không đồng nghĩa với khả năng điều trị an toàn. Một chất có thể tiêu diệt tế bào ung thư trong ống nghiệm nhưng đồng thời cũng phá hủy cả các tế bào lành xung quanh, gây tổn thương gan, thận và tủy xương của cơ thể.

Cho đến nay, chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên bệnh nhân để chứng minh hiệu quả và độ an toàn của các hoạt chất chiết xuất từ nhóm cây này trong việc điều trị ung thư. Việc tuyên bố dược liệu này có thể "chữa khỏi ung thư" là hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học.

Hiểu lầm thường gặp và nguy cơ ngộ độc

Sai lầm phổ biến nhất của người dân là đồng nhất "chiết xuất tinh khiết có hoạt tính" với việc "uống nước sắc cây tươi". Cây thuộc chi Xương rồng hay Euphorbia chứa lượng nhựa mủ (latex) rất đậm đặc.

Nhựa mủ của các loài thực vật này chứa nhiều hợp chất gây kích ứng cực mạnh đối với niêm mạc da, mắt và đường tiêu hóa. Việc tự ý nhai, giã nát đắp hoặc sắc uống cây tươi có thể dẫn đến bỏng rát thực quản, xuất huyết dạ dày, nôn mửa dữ dội, tiêu chảy nặng và tổn thương chức năng gan thận cấp tính.

Ngoài ra, một số dẫn xuất diterpenoid dạng ingenol hoặc phorbol ester tự nhiên trong chi cây này thậm chí từng được ghi nhận có nguy cơ kích thích khối u phát triển nếu dùng không đúng cách và liều lượng. Khi tự ý dùng cây thô, người bệnh vừa đưa vào cơ thể hàng trăm chất chưa qua tinh chế, vừa đối mặt với nguy cơ ngộ độc nguy hiểm đến tính mạng.

Ai cần tuyệt đối thận trọng?

Người đang mắc bệnh ung thư tuyệt đối không được tự ý bỏ dở phác đồ điều trị chuẩn mực (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp miễn dịch) để chuyển sang dùng các bài thuốc truyền miệng từ cây họ xương rồng. Việc trì hoãn điều trị y khoa có thể khiến khối u di căn sang giai đoạn không thể can thiệp.

Phụ nữ mang thai và người đang cho con bú không được tiếp xúc hay sử dụng bất kỳ bộ phận nào của nhóm cây này do nguy cơ gây co bóp tử cung, nhiễm độc thai nhi và bài tiết chất độc qua sữa.

Trẻ nhỏ và người cao tuổi có chức năng gan thận suy giảm là nhóm đối tượng cực kỳ dễ bị tổn thương nếu nhiễm phải độc tố từ nhựa cây. Bất kỳ sự tiếp xúc ngoài da nào cũng có thể gây phồng rộp, viêm loét da nghiêm trọng.

Bệnh nhân đang sử dụng các thuốc chuyển hóa qua gan cần cảnh giác cao độ vì các hợp chất tự nhiên chưa rõ cơ chế có thể tương tác bất lợi với thuốc điều trị, làm mất tác dụng của thuốc hoặc tăng độc tính lên mức nguy hiểm.

Góc nhìn đúng đắn và lời khuyên ứng dụng

Các nghiên cứu khoa học hiện nay chỉ đóng vai trò là bước khởi đầu trong việc tìm kiếm các cấu trúc hóa học tiềm năng nhằm định hướng tổng hợp thuốc trong tương lai [2], [1]. Từ một chất thể hiện độc tính tế bào trong ống nghiệm đến một viên thuốc điều trị ung thư trên người là chặng đường dài hàng chục năm với vô số bước thử nghiệm khắt khe về dược động học, độc tính học và thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm.

Người dân tuyệt đối không tự ý thu hái, chế biến hay sử dụng các loại cây xương rồng, đại kích hoang dã để uống phòng ngừa hay điều trị bệnh. Nếu trồng làm cảnh, cần đeo găng tay khi cắt tỉa và để xa tầm tay trẻ em nhằm tránh nhựa cây dính vào mắt hay da.

Khi đối mặt với bất kỳ vấn đề sức khỏe nào, đặc biệt là bệnh lý ung thư, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa ung bướu. Mọi ý định kết hợp thảo dược hay bất kỳ chế phẩm bổ trợ nào đều phải được thông báo và thảo luận trực tiếp với bác sĩ điều trị để đảm bảo an toàn tối đa cho tính mạng.