Tên gọi khác: Lẩu Tín, Dây Duốc Cá, Dây Cắt, Dây Mật, Dây Cóc
Tên tiếng Anh: Tubaroot, Derris, Oiltree
Plantae
Cách sử dụng trong đời sống
Trong lịch sử, cư dân Đông Nam Á đã khai thác đặc tính của dây duốc cá trong đánh bắt thủy sản. Khi trộn rễ nghiền với nước ở nồng độ một phần triệu, cá sẽ rơi vào trạng thái choáng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt. Ở nồng độ cao hơn, có thể dẫn đến tử vong ở cá.Khả năng diệt trừ sâu bọ của rễ duốc cá đã được người dân Trung Quốc và Ấn Độ phát hiện từ xa xưa. Đến thập niên 1930, đặc tính này mới được các nhà khoa học châu Âu và châu Mỹ nghiên cứu chuyên sâu. Rotenon thể hiện độc tính với động vật máu lạnh qua Đường tiêu hóa hoặc tiếp xúc ở nồng độ 1×10-8, trong khi deguelin kém độc hơn 10 lần, tephrosin kém 40 lần và toxicarol kém tới 400 lần. Cơ chế tác động của rotenon là gây tê liệt trung tâm hô hấp, khiến sâu bọ suy yếu dần và tử vong mà không có biểu hiện quằn quại như khi sử dụng pyretrin từ cúc trừ trùng.Đối với người và động vật máu nóng, các hoạt chất này gần như vô hại khi đưa vào đường tiêu hóa, tuy nhiên có thể gây liệt hô hấp và tử vong do ngạt nếu tiêm trực tiếp vào mạch máu.Phương pháp kiểm nghiệm sinh học rễ duốc cá bao gồm:Thử nghiệm trên cá vàng (Carassius auratus), Ides melanotes, và Phoxinus laevis: Đánh giá nồng độ tối thiểu gây mất thăng bằng hoặc ảnh hưởng đến khả năng bơi ngược dòng.Thử nghiệm trên nhộng và ấu trùng côn trùng: Phun dung dịch rotenon hoặc rễ duốc cá loãng lên ấu trùng trong môi trường kín.Thử nghiệm trên ruồi: Gây tê liệt tạm thời ruồi bằng lạnh, nhỏ một giọt dung dịch thử nghiệm lên mỗi con bằng ống nhỏ giọt vi quản, đếm số…