Tên gọi khác: Mùi cua, Cà gai, Gai ma, Lão thử lặc, Cà dại hoa vàng
Tên tiếng Anh: Bathurst Bur-Weed, Bermuda Thistle, Mexican Poppy, Mexican Prickly Poppy
Thuốc tẩy, gây nôn. Chữa giang mai, bệnh ngoài da (Hạt). Độc.
Cách sử dụng trong đời sống
Ở Việt Nam, cây gai cua chưa được dùng làm thuốc.
Ở Ấn Độ, nhân dân dùng dầu từ hạt gai cua bôi ngoài trị bệnh về da, và dùng uống làm thuốc tẩy. Khi cây bị dập nát, tiết ra chất nhựa mủ màu vàng, dùng trị phù, vàng da, bệnh về mắt và bệnh về da. Hạt có tác dụng nhuận tràng, gây nôn, long đờm, dùng nhiều có độc, có tác dụng làm dịu và làm chất giải độc rắn. Rễ điều trị bệnh da mạn tính. Để chữa chứng nói ngọng, nhỏ 1 -2 giọt nhựa mủ vào lưỡi, ngày một lần trong 3 – 4 tháng. Để trị bệnh lậu, sắc khoảng 250g rễ khô trong 2 lít nước còn nửa lượng, mỗi lần uống 10 – 15ml thuốc sắc, ngày 2 lần. Đồng thời, trộn dịch ép lá tươi gai cua với dịch ép lá Aristolochia sp với tỷ lệ bằng nhau, bôi vào âm đạo. Cai cua được dùng phổ biến là chất giải độc chống rắn cắn dịch ép toàn cây dùng uống và bôi đắp ngoài, hoặc toàn cây tán bột mịn, ngày uống 10g lúc đi ngủ, uống liên tục trong 3 ngày.
Trong y học dân gian Nepan, rễ gai cua là thuốc hạ sốt, uống mỗi lần 15g, ngày 2 lần trong 2-3 ngày, đối với trẻ em dưới 15 tuổi, giảm liều xuống một nửa. Để điều trị bệnh đục thủy tinh, nhỏ vào mắt khoảng 2-3 giọt nhựa mủ vàng từ cây gai cua. Nhựa này cũng được bôi vào vết đứt và vết thương hở để sat trùng. Quả còn xanh đắp trị vết bỏng. Hạt gai cua giã nát trộn với mù tạt, trị eczema. Ở Haiti, nhân dân uống nước sắc lá trị cúm và ho. Ở đảo Martinic, nhựa mủ cây gai cua chữa chai chân, mụn cơm và bệnh ngoài da.
Cập nhật: 08/09/2022
★★★★★★0.0 - 0 đánh giá
Chia sẻ
Chia sẻ