Nhiều người có thói quen tìm kiếm các loại cây thuốc nam, thảo mộc truyền thống để bồi bổ sức khỏe hoặc điều trị các bệnh mãn tính vì cho rằng nguồn gốc thiên nhiên luôn lành tính. Trong dân gian, dây gân (thường thuộc chi thực vật Ventilago) là một vị thuốc được nhắc tới trong nhiều bài thuốc truyền miệng. Tuy nhiên, liệu việc sử dụng loại dược liệu này có tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc hay tổn thương cơ quan nội tạng hay không vẫn là câu hỏi khiến không ít người băn khoăn.

Thực tế kiểm tra các bằng chứng khoa học cho thấy, hiện tại danh mục tài liệu nghiên cứu độc học được cung cấp hoàn toàn không chứa bất kỳ thử nghiệm hay dữ liệu thực nghiệm nào liên quan đến độc tính cấp hay bán trường diễn của dây gân (chi Ventilago). Các bằng chứng thử nghiệm độc tính hiện có chỉ tập trung khảo sát trên các hoạt chất và loài thực vật hoàn toàn khác như màng tang (Litsea elliptica), Caralluma europaea, Cassipourea flanaganii, hợp chất chiết xuất từ cà gai leo ba thùy (Solanum trilobatum), hay hoạt chất hóa dược và hợp chất phân lập như ivermectin, auraptene, resveratrol surrogate molecule 5 và bài thuốc NawaTab.

Do đó, người dùng cần hết sức cảnh giác: không thể suy diễn tính an toàn hoặc nguy cơ độc tính của các loài thực vật khác sang cho cây dây gân. Việc tự ý thu hái, sắc uống hoặc ngâm rượu loại cây này khi chưa có thẩm định chuyên môn tiềm ẩn rủi ro khó lường.

Độc tính của dây gân: Thực trạng dữ liệu khoa học

Trong nghiên cứu dược lý hiện đại, để khẳng định một vị thảo dược có an toàn hay không, các nhà khoa học phải thực hiện quy trình thử nghiệm độc tính nghiêm ngặt. Thông thường, quy trình bắt đầu từ thử nghiệm độc tính cấp tính (đánh giá phản ứng ngay sau một liều duy nhất) và bán trường diễn (đánh giá sau một thời gian dùng lặp lại, thường là 28 đến 30 ngày) trên mô hình động vật như chuột cống hoặc chuột nhắt.

Đối với cây dây gân (chi Ventilago), trong nguồn tài liệu dữ liệu được ghi nhận hiện tại, chưa có bất kỳ báo cáo độc học nào được cung cấp. Tất cả các dữ liệu có sẵn đều đề cập đến các đối tượng thực vật và hợp chất khác không cùng chi họ:

Nghiên cứu về tinh dầu màng tang (Litsea elliptica Blume) năm 2012 thực hiện trên chuột cống trắng cái giống Sprague-Dawley đã đánh giá độc tính cấp tính qua đường uống với các liều từ 500 đến 4000 mg/kg trọng lượng cơ thể [1]. Kết quả cho thấy tinh dầu này gây ra các hành vi bất thường và tử vong phụ thuộc vào liều lượng, với liều gây chết trung bình (LD50) là 3488,86 mg/kg và mức liều không quan sát thấy tác dụng có hại (NOAEL) là 500 mg/kg [1]. Trong thử nghiệm bán trường diễn với các liều 125, 250 và 500 mg/kg trong 28 ngày liên tục, tinh dầu này không làm thay đổi trọng lượng cơ thể hay lượng tiêu thụ thức ăn và nước uống [1]. Một số chỉ số huyết học và sinh hóa có thay đổi nhưng vẫn nằm trong giới hạn bình thường, và không ghi nhận biến đổi bệnh lý mô học ở gan, tụy hay thận, qua đó được xếp vào nhóm ít có nguy cơ nguy hại cấp tính theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [1].

Một nghiên cứu khác năm 2017 đánh giá dịch chiết nước của cây Caralluma europaea trên chuột nhắt trắng theo hướng dẫn của WHO và OECD [2]. Thử nghiệm cấp tính dùng liều duy nhất 5 g/kg trọng lượng cơ thể trên nhóm 5 con chuột và theo dõi trong 14 ngày [2]. Thử nghiệm bán trường diễn cho chuột uống dịch chiết hàng ngày ở các mức liều 1, 2,5 hoặc 5 g/kg trong 30 ngày liên tiếp, sau đó thu thập mẫu máu và mô gan, thận, lách để nhuộm hematoxylin-eosin kiểm tra dưới kính hiển vi và phân tích các chỉ số men gan (ALT, AST), creatinin, urê [2].

Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 1998 về sobatum – thành phần tinh chế từ cây cà ba thùy (Solanum trilobatum) – trên chuột nhắt cho thấy liều đơn (cấp tính) và dùng lặp lại hàng ngày (bán trường diễn) không gây ra triệu chứng ngộ độc hay tử vong, không làm thay đổi các chỉ số máu, men chống oxy hóa và không gây tổn thương mô học [3].

Nghiên cứu năm 2023 trên chuột cống Wistar với dịch chiết vỏ thân cây Cassipourea flanaganii bằng methanol cũng ghi nhận không có dấu hiệu độc tính lâm sàng, không có tổn thương mô bệnh học hay thay đổi huyết học nào có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm sau các thử nghiệm cấp tính và bán trường diễn [4].

Cùng năm 2023, chế phẩm viên nén thảo dược NawaTab của Thái Lan được đánh giá độc tính trên chuột cống theo hướng dẫn của OECD [5]. Kết quả thử nghiệm cấp tính cho thấy LD50 cao hơn 5000 mg/kg [5]. Ở thử nghiệm bán trường diễn trong 28 ngày, chuột cống đực dùng liều 500 mg/kg và chuột cống cái dùng các liều 250, 500, 1000 mg/kg có hiện tượng tăng tiêu thụ nước đáng kể; chuột cái liều 1000 mg/kg có tăng globulin và cholesterol toàn phần, nhưng các chỉ số này vẫn trong phạm vi sinh lý bình thường và không phát hiện bất thường mô bệnh học [5].

Nghiên cứu công bố năm 2025 về phân tử dẫn xuất của resveratrol mang tên RSM5 trên chuột nhắt BALB/c với các mức liều 15, 30 và 60 mg/kg đường uống (đơn liều và lặp lại 28 ngày) cho thấy hồ sơ an toàn tốt, không có tác dụng độc hại đáng kể [6].

Nghiên cứu năm 2017 về hợp chất tự nhiên auraptene dùng qua đường uống trên chuột cống ghi nhận liều cấp tính từ 125 đến 2000 mg/kg không gây tử vong hay dấu hiệu lâm sàng trong 2 ngày theo dõi [7]. Thử nghiệm bán trường diễn ở các liều 125 và 250 mg/kg trong 28 ngày cho thấy các chỉ số huyết học có biến động nhưng vẫn trong phạm vi tham chiếu bình thường, không ghi nhận độc tính mô bệnh học hay thay đổi miễn dịch [7].

Cuối cùng, nghiên cứu năm 2007 so sánh phương pháp thử nghiệm độc tính cấp tính của thuốc ivermectin tiêm dưới da trên chuột cống ghi nhận giá trị LD50 vào khoảng 50 đến 51,5 mg/kg, với tổn thương hoại tử trung tâm tiểu thùy gan và xuất huyết khi khám nghiệm tử thi [8].

Tất cả các thử nghiệm cụ thể nói trên đều thuộc về các loài thực vật, bài thuốc hoặc hoạt chất riêng biệt. Hoàn toàn không có dữ liệu nào liên quan đến chi Ventilago hay dây gân trong tập hợp bằng chứng này.

Nguy cơ tiềm ẩn từ việc hiểu lầm về cây dây gân

Việc thiếu vắng dữ liệu độc học trong các tài liệu hiện hành phản ánh một thực trạng phổ biến đối với nhiều cây thuốc dân gian: chúng được lưu truyền chủ yếu theo kinh nghiệm cá nhân mà chưa được chuẩn hóa hoặc kiểm tra độc tính hệ thống trong phòng thí nghiệm.

Nhiều người lầm tưởng rằng cây cỏ thiên nhiên thì "vô thưởng vô phạt", uống vào nếu không bổ thì cũng không hại. Đây là quan niệm hết sức sai lầm. Thảo dược tự nhiên chứa hàng trăm hợp chất hóa học phức tạp. Nếu không được định lượng và kiểm soát hoạt chất, các hợp chất này hoàn toàn có thể gây gánh nặng chuyển hóa lên gan và đào thải qua thận, dẫn đến suy giảm chức năng các cơ quan này.

Thêm vào đó, việc nhận dạng dược liệu trong tự nhiên rất dễ nhầm lẫn. Rất nhiều loài dây leo hoang dã có hình dáng bên ngoài tương tự nhau nhưng lại thuộc các chi họ khác nhau, thậm chí chứa các độc tố nguy hiểm đe dọa tính mạng. Khi người dân tự ý tìm hái hoặc mua các bó cây khô không rõ nguồn gốc dán nhãn "dây gân", nguy cơ dùng phải cây có độc tính cao hoặc bị pha tạp là rất lớn.

Giới hạn của bằng chứng hiện có

Các bằng chứng khoa học nêu trên cho thấy sự đa dạng trong phản ứng sinh học đối với từng loại chiết xuất tự nhiên. Trong khi một số loài như Cassipourea flanaganii hay hoạt chất như auraptene cho thấy ngưỡng an toàn tương đối rộng trên mô hình gặm nhấm [4] [7], thì những chất như tinh dầu Litsea elliptica vẫn có thể gây chết phụ thuộc vào liều và có mức giới hạn NOAEL cụ thể [1], hoặc ivermectin có thể gây tổn thương mô hoại tử gan nghiêm trọng [8].

Điều này chứng minh rằng: mỗi loài thảo dược hay mỗi dạng bào chế (tinh dầu, dịch chiết nước, chiết cồn) đều có một hồ sơ độc học hoàn toàn riêng biệt. Không thể lấy kết quả an toàn của một loài cây này để ngoại suy hay bảo chứng cho sự an toàn của cây khác.

Đặc biệt, do hoàn toàn chưa có thử nghiệm lâm sàng cũng như thử nghiệm độc tính tiền lâm sàng trên động vật của dây gân (chi Ventilago) trong bộ dữ liệu này, mọi khẳng định về việc dây gân "không độc" hay "an toàn tuyệt đối" đều thiếu căn cứ khoa học xác thực.

Ai nên thận trọng?

Vì chưa có các nghiên cứu độc tính rõ ràng để xác định ngưỡng an toàn và mức liều gây hại của dây gân, những đối tượng sau đây cần đặc biệt cảnh giác và không nên tự ý sử dụng:

Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Dược liệu chưa qua kiểm nghiệm có thể chứa các hoạt chất gây co bóp tử cung hoặc bài tiết qua sữa mẹ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thai nhi và trẻ sơ sinh.

Người mắc các bệnh lý về gan và thận: Gan và thận là hai cơ quan chính chịu trách nhiệm chuyển hóa và đào thải các chất lạ khỏi cơ thể. Bất kỳ một vị thuốc không rõ độc tính nào cũng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng suy gan, viêm gan hoặc suy giảm chức năng thận.

Người đang điều trị các bệnh mãn tính và dùng thuốc tây y: Các thành phần chưa xác định trong thảo dược có thể tương tác với thuốc điều trị (thuốc tim mạch, tiểu đường, huyết áp), làm giảm hiệu quả thuốc hoặc tăng độc tính của thuốc lên cơ thể.

Người cao tuổi và trẻ nhỏ: Đây là nhóm có hệ thống enzyme chuyển hóa và chức năng miễn dịch nhạy cảm, dễ gặp phản ứng phụ bất lợi khi tiếp xúc với các chất lạ.

Khuyến cáo áp dụng trong đời sống

Để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình trước các bài thuốc dân gian truyền miệng liên quan đến dây gân, người tiêu dùng cần tuân thủ các nguyên tắc:

Tuyệt đối không tự ý tìm hái cây dại dựa trên mô tả hình ảnh trên mạng hoặc lời truyền miệng để phơi khô sắc nước uống. Nguy cơ ngộ độc do nhầm lẫn loài thực vật có độc là rất cao.

Không sử dụng các sản phẩm rễ, thân, lá cây khô được đóng gói thủ công, không có nhãn mác, không rõ thành phần loài, không có số đăng ký của cơ quan y tế hoặc chứng nhận kiểm định chất lượng.

Khi gặp bất kỳ vấn đề sức khỏe nào, người bệnh cần đến các cơ sở y tế uy tín để được chẩn đoán và điều trị theo phác đồ khoa học. Nếu có mong muốn kết hợp sử dụng y học cổ truyền, phải tìm đến các bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền tại các bệnh viện có chứng chỉ hành nghề để được kê đơn đúng vị, đúng liều lượng đã được cấp phép.

Cây thuốc nam là kho tàng kinh nghiệm quý báu nhưng chỉ phát huy giá trị khi được khoa học soi sáng và kiểm chứng độc tính chặt chẽ. Đừng đánh cược sức khỏe của bản thân bằng những vị thuốc chưa rõ nguồn gốc và thiếu vắng bằng chứng an toàn.