Nhiều người dân vùng trung du, miền núi thường đào rễ cỏ chít về phơi khô, sắc nước uống hàng ngày nhằm thanh nhiệt, giải độc và trị bệnh gan hoặc tiểu đường. Thói quen truyền miệng này tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng khi người dùng lạm dụng liều lượng hoặc thu hái sai cây. Uống nước sắc rễ cỏ chít sai cách gây mất cân bằng nước, rối loạn điện giải và ngộ độc do nhầm lẫn thảo mộc.

Khoa học hiện đại chưa ghi nhận bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh rễ cỏ chít có khả năng chữa bệnh trên người. Các dữ liệu thực nghiệm mới dừng lại ở phân tích vi sinh vật và hoạt tính chiết xuất nấm trong ống nghiệm. Dưới đây là 3 sai lầm nguy hiểm người dùng cần tránh khi tiếp cận loại cây này.

Nhầm lẫn cỏ chít với các loài cỏ họ hòa thảo khác

Sai lầm phổ biến hàng đầu là tự thu hái ngoài tự nhiên mà không phân biệt được cây chít với các cây cỏ khác cùng môi trường sống. Cỏ chít có tên khoa học là Thysanolaena maxima, thuộc họ hòa thảo (Gramineae/Poaceae). Trong tự nhiên, cây chít có hình thái thân thảo cao, lá thuôn dài và cụm hoa chùy rất giống cỏ chè vè, cỏ lách, sậy hoặc mía dại.

Sự tương đồng về mặt thực vật học giữa các loài cỏ họ hòa thảo khiến mắt thường khó nhận biết chính xác nếu không có kiến thức phân loại chuyên sâu. Các nghiên cứu bệnh học thực vật ghi nhận cỏ chít chia sẻ chung nhiều đặc điểm ký chủ và mầm bệnh với các loài trong họ hòa thảo cũng như họ cau cọ (Palmae) [1]. Việc thu hái nhầm rễ của các loài cỏ hoang dại khác chứa độc tố tự nhiên có thể dẫn đến viêm dạ dày ruột cấp, suy gan hoặc tổn thương thận cấp tính.

Ngoài ra, các loài cỏ dại mọc sát mép đường, bờ suối hay chân đồi rất dễ hấp thu kim loại nặng, hóa chất trừ cỏ và thuốc bảo vệ thực vật từ đất canh tác lân cận. Khi người dân đào rễ về rửa sơ sài rồi đun sắc, các chất độc tích tụ trong mô rễ sẽ hòa tan vào nước uống, gây độc tính mạn tính cho cơ thể.

Tự ý dùng quá liều gây mất nước và rối loạn điện giải

Sai lầm nghiêm trọng thứ hai là quan niệm thảo dược tự nhiên lành tính nên dùng liều càng cao, uống càng đặc thì hiệu quả giải độc càng nhanh. Nhiều người đun nước sắc rễ chít thay hoàn toàn cho nước lọc hàng ngày và duy trì trong thời gian dài. Rễ cỏ chít khi sắc đặc kích thích tăng bài tiết qua đường tiết niệu, tạo ra tác dụng lợi tiểu mạnh nhưng thiếu kiểm soát.

Tình trạng lợi tiểu quá mức khiến cơ thể mất đi lượng lớn nước cùng các ion khoáng thiết yếu gồm natri, kali và clorua. Nồng độ natri máu tụt giảm đột ngột gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, yếu cơ và tụt huyết áp thế đứng. Thiếu hụt kali nghiêm trọng hơn có thể gây loạn nhịp tim, chuột rút bắp chân, co cứng cơ và thậm chí ngưng tim nếu không bù điện giải kịp thời.

Việc uống liên tục nước sắc rễ cây không rõ liều chuẩn cũng tạo áp lực lọc rất lớn lên cầu thận. Người cao tuổi hoặc người có tiền sử suy tim, suy thận mạn dùng nước sắc lợi tiểu bừa bãi sẽ nhanh chóng rơi vào trạng thái sốc giảm thể tích tuần hoàn và suy kiệt điện giải.

Đánh đồng hoạt tính phòng thí nghiệm với tác dụng chữa bệnh

Nhiều thông tin đồn thổi cho rằng cỏ chít đã được khoa học chứng minh diệt khuẩn, chống oxy hóa và ngừa ung thư. Đây là sự ngộ nhận và diễn giải sai lệch kết quả từ các thí nghiệm sinh học cơ bản. Trên thực tế, các hoạt tính được ghi nhận không đến từ việc sắc rễ cỏ chít uống trực tiếp, mà đến từ các hợp chất chiết xuất từ vi sinh vật sống cộng sinh trên cây [2].

Trong nghiên cứu dược lý thực nghiệm, các nhà khoa học tách chiết nấm nội sinh từ mô cây cỏ chít tươi, sau đó dùng dung môi hữu cơ ethyl acetate để thu gom hoạt chất và thử nghiệm trên tế bào vi khuẩn hoặc tôm biển [2]. Dung dịch nước đun sôi thông thường hoàn toàn không thể hòa tan hay chiết xuất được các hợp chất này theo cùng cơ chế.

Hơn nữa, nồng độ hoạt chất thể hiện độc tính tế bào trong ống nghiệm chưa từng được kiểm tra về tính an toàn trên cơ thể sống phức tạp của con người. Tự ý uống nước sắc đậm đặc với hy vọng tiêu diệt khối u hay diệt vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể là hành vi mạo hiểm, làm trì hoãn phác đồ điều trị y khoa chuẩn mực.

Các nghiên cứu thực nghiệm nói gì về cỏ chít và vi sinh vật liên quan

Để đánh giá đúng giá trị khoa học của cỏ chít (Thysanolaena maxima), cần xem xét cụ thể các công bố sinh học đã thực hiện trên loài cây này. Hiện tại, dữ liệu nghiên cứu chỉ tập trung vào vi khuẩn gây bệnh trên cây và tiềm năng của nấm nội sinh phân lập từ mô thực vật.

Nghiên cứu công bố năm 2000 đã phân tích biến dị của các chủng vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. vasculorum (Xcv) dựa trên thành phần acid béo tế bào [1]. Nhóm nghiên cứu chia các chủng vi khuẩn thu thập được thành năm nhóm (từ nhóm A đến nhóm E) [1]. Chủng thuộc nhóm A đại diện cho một bậc phân loại mới và toàn bộ được phân lập từ cây cỏ chít (Thysanolaena maxima) tại Mauritius [1].

Các chủng nhóm B gồm chủng tham chiếu của Xcv, phân lập từ cây cọ, cỏ chít và mía tại Mauritius, Reunion và Úc [1]. Nhóm C gồm các chủng từ mía và ngô ở Nam Phi và Madagascar cùng với chủng X. campestris pv. holcicola [1]. Nhóm D phân lập từ mía, ngô và cau vua (Roystonea regia) tại Mauritius và Reunion [1]. Nhóm E chứa một chủng Xcv ký hiệu NCPPB 182 từ Puerto Rico, một chủng X. vasicola pv. holcicola cùng 6 chủng Xanthomonas chưa phân loại gây bệnh sọc đỏ trên mía [1].

Kết quả công bố cho thấy 3 nhóm A, B và D đều có khả năng gây bệnh chảy gôm (gumming disease) trên cỏ chít (Thysanolaena maxima) [1]. Đồng thời, hai nhóm B và D cũng gây bệnh chảy gôm trên cây mía thuộc họ hòa thảo (Gramineae) và các loài cọ thuộc họ cau dừa (Palmae) [1]. Dữ liệu này chứng minh cỏ chít là vật chủ trung gian chứa các vi khuẩn gây bệnh nông nghiệp nguy hiểm cho các cây trồng họ hòa thảo khác [1].

Năm 2023, một nghiên cứu khác tập trung khảo sát hoạt tính kháng khuẩn, chống oxy hóa và độc tính tế bào của nấm nội sinh phân lập từ cỏ chít (Thysanolaena maxima Roxb.), Dracaena spicata Roxb. và Aglaonema hookerianum Schott. tại Bangladesh [2]. Các nhà khoa học phân lập được 13 dòng nấm, trong đó chi nấm Fusarium chiếm ưu thế nhất, số còn lại thuộc chi Colletotrichum và Pestalotia [2].

Thử nghiệm hoạt tính cho thấy cao chiết ethyl acetate từ các chủng nấm Fusarium thể hiện hoạt tính sinh học vượt trội so với hai chi nấm còn lại [2]. Về khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch, hai chủng Fusarium sp. ký hiệu DSLE-1 và AHPE-4 ức chế được toàn bộ các chủng vi khuẩn thử nghiệm [2]. Trong đó, chủng AHPE-4 tạo vòng ức chế lớn nhất là 15,5 ± 0,4 mm đối với vi khuẩn Bacillus subtilis [2].

Về năng lực quét gốc tự do thử nghiệm bằng phương pháp DPPH, toàn bộ các chủng nấm nội sinh đều biểu hiện hoạt tính chống oxy hóa ở mức nhẹ đến trung bình [2]. Giá trị chống oxy hóa cao nhất thuộc về chủng Fusarium sp. ký hiệu AHPE-3 với giá trị nồng độ ức chế 50% (IC50) đạt 84,94 ± 0,41 µg/mL [2].

Đáng chú ý, phần lớn chủng nấm Fusarium phân lập được đều biểu hiện độc tính tế bào đáng kể qua thử nghiệm độc tính trên ấu trùng tôm biển (brine shrimp lethality bioassay) [2]. Chủng AHPE-4 ghi nhận mức độ độc tế bào cao nhất với nồng độ gây chết 50% (LC50) là 14,33 ± 4,5 µg/mL [2]. Các nhà nghiên cứu kết luận nấm nội sinh từ cỏ chít có tiềm năng tạo nguồn chất hoạt tính sinh học mới nhưng cần thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu [2].

Nguy cơ nhiễm nấm mốc và vi khuẩn gây bệnh khi dùng rễ tươi

Dữ liệu khoa học cho thấy các bộ phận của cỏ chít tự nhiên là nơi cư ngụ của nhiều chủng vi sinh vật hoang dại, bao gồm vi khuẩn Xanthomonas và nấm mốc chi Fusarium [1] [2]. Chi nấm Fusarium trong tự nhiên là tác nhân phổ biến sản sinh các độc tố nấm (mycotoxin) có khả năng gây hại cho gan và thận người nếu ăn uống phải.

Phương pháp chế biến rễ cỏ chít thủ công tại gia đình thường chỉ gồm đào rễ, rửa nước lã và phơi nắng trên nền đất hoặc mái tôn. Quy trình thô sơ này không loại bỏ được bào tử nấm mốc hoặc vi khuẩn bám sâu trong các kẽ rễ xơ hóa. Khi gặp thời tiết ẩm ướt, dược liệu phơi chưa khô kiệt sẽ sinh mốc hỏng rất nhanh.

Đun sắc thông thường không phá hủy hoàn toàn mọi độc tố vi nấm chịu nhiệt. Uống nước sắc nhiễm tạp chất vi sinh vật làm tăng nguy cơ ngộ độc cấp tính, rối loạn hệ vi sinh đường ruột và gây viêm loét niêm mạc ống tiêu hóa.

Những đối tượng cần thận trọng và tránh sử dụng

Các thử nghiệm dược lý hiện có về cỏ chít hoàn toàn thực hiện trên chủng nấm nội sinh, vi khuẩn và mô hình ấu trùng tôm biển, chưa có bất kỳ dữ liệu lâm sàng nào trên cơ thể người [2]. Do đó, việc tự ý dùng rễ cỏ chít tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với các nhóm dân số nhạy cảm.

Người mắc bệnh thận mạn tính hoặc đang suy giảm chức năng thận tuyệt đối không nên dùng nước rễ cỏ chít sắc. Tác dụng kích thích bài niệu không kiểm soát kết hợp nguy cơ nhiễm độc tố từ thảo dược tự nhiên có thể làm suy giảm nhanh chóng mức lọc cầu thận.

Bệnh nhân tim mạch, huyết áp thấp và người đang sử dụng thuốc lợi tiểu Tây y (như furosemide, hydrochlorothiazide) phải tránh xa các loại nước sắc thảo mộc này. Nguy cơ tương tác thuốc gây cộng gộp tác dụng lợi tiểu sẽ dẫn tới tụt huyết áp kịch phát và hạ kali máu gây nguy hiểm tính mạng.

Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ và trẻ nhỏ là những nhóm chưa từng được nghiên cứu về mức độ an toàn đối với cỏ chít. Độc tính tế bào từ các chất chuyển hóa vi sinh vật ký sinh trong rễ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thai nhi và trẻ sơ sinh [2].

Người có bệnh nền đái tháo đường hoặc suy gan không được bỏ thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ để thay bằng nước sắc rễ cỏ chít. Hành vi này dễ dẫn đến hôn mê do tăng đường huyết hoặc bùng phát suy gan cấp không thể phục hồi.

Khuyến cáo sử dụng thực tế và lời khuyên an toàn

Để bảo vệ sức khỏe và tránh các rủi ro đáng tiếc, người dân cần thay đổi nhận thức về việc sử dụng các loại rễ cây rừng nói chung và rễ cỏ chít nói riêng:

Thứ nhất, không tự ý đào rễ các loại cỏ dại ven đường hoặc trên đồi núi về làm thuốc khi chưa có nhận dạng chuẩn xác từ chuyên gia thực vật học. Rủi ro nhầm lẫn giữa cỏ chít với các loài cỏ chứa độc khác trong họ hòa thảo là rất lớn.

Thứ hai, không sử dụng nước sắc rễ cỏ chít với mục đích điều trị bệnh lý mạn tính. Nếu muốn giải khát, chỉ nên dùng các loại thảo dược đã được chứng minh an toàn trong Dược điển và uống với lượng vừa phải, không uống thay thế nước lọc.

Thứ ba, ngưng sử dụng ngay lập tức và đến cơ sở y tế gần nhất nếu xuất hiện các triệu chứng bất thường sau khi uống nước thảo mộc như: chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực, chuột rút, buồn nôn, tiêu chảy hoặc tiểu tiện nhiều lần mất kiểm soát.

Tóm lại, rễ cỏ chít là một bộ phận của loài cây thảo tự nhiên chưa có chứng minh khoa học về hiệu quả điều trị bệnh trên người. Thói quen sắc uống quá liều gây rối loạn điện giải nghiêm trọng và nguy cơ ngộ độc do nhầm lẫn loài thực vật họ hòa thảo. Người dân cần tỉnh táo trước các kinh nghiệm truyền miệng, duy trì chế độ uống đủ nước sạch và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi áp dụng bất kỳ bài thuốc dân gian nào.