Dược liệuLúa
Ngô
Zea mays L.
Tên gọi khác: Ngô, Bắp, má khẩu lý (Thái), Khẩu tấy bắc
Tê thấp, sỏi thận, tê thấp, lợi tiểu (Vòi nhụy).
Cách sử dụng trong đời sống
- Râu ngô dược dùng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị đái vàng, đái rắt buốt, viêm đường tiết niệu, sỏi niệu, phù thũng, huyết áp cao, thuốc thông mật trong điều tri viêm gan, viêm túi mật, vàng da, sỏi túi mật. Ngày dùng 20 – 30g râu ngô, hoặc ruột bấc 100 – 200g dưới dạng thuốc sắc. Ở Ấn Độ, dầu ngô từ mầm khô hạt ngô thu hồi trong quá trình xay và tinh chế được dùng trong công nghiệp dược để bào chế các dung dịch vitamin. Râu ngô là thuốc lợi tiểu. Theo kinh nghiệm dân gian, để chữa ho gà kèm theo nôn, cho bệnh nhân uống tro của bông không có hạt của cây ngô, bột lá vông nem và mật ong. Mỗi lần 2-3 thìa cà phê, ngày 4 lần. Ở Nepal, nhân dân dùng hai phần bột ngô trộn với một phần bột quả bồ hòn để gội đầu chống gầu và diệt chấy. Ở Nigeria, hạt ngô khô rang thành bỏng là một thành phần trong một thuốc nước chế từ nhiều vị được dùng tưới lên người đứa trẻ bị sốt cao co giật, đồng thời cho uống 2 thìa cà phê để hạ sốt. Ở Pêru, người ta dùng rượu ngâm hạt ngô bôi ngoài trị thấp khớp và chứng rụng tóc. Nước sắc râu ngô dùng làm thuốc lợi tiểu, trị bệnh lậu, lảm thuốc bổ và an thần. Trong y học dân gian Haiti, hạt ngô giã đắp, bó chữa gãy xương. Nước sắc hoặc nước ngâm râu ngô dùng uống trị phù. Hạt ngô giã đắp nóng trị chấn thương. Ở Guatemala, nhân dân dùng râu ngô trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu và bệnh thận. Ở Brasil, râu ngô có trong thành phần một bài thuốc cổ truyền trị tăng huyết áp.
