Nhiều người coi cao quy bản (yếm rùa) như phương thuốc đại bổ giúp dưỡng âm, chắc xương khớp. Tuy nhiên, việc tự ý bồi bổ vị thuốc béo ngậy, nồng vị này khi tỳ vị đang suy yếu khiến không ít người gặp tình trạng chướng bụng, đầy hơi, thậm chí tiêu chảy tăng nặng.

Thực tế, cao quy bản thuộc nhóm dược liệu có tính nê trệ và chứa lượng lớn lipid, axit béo đậm đặc. Dược liệu này hoàn toàn không phải thuốc bổ phù hợp cho tất cả mọi người, đặc biệt là nhóm có hệ tiêu hóa yếu, hàn thấp trệ hay phụ nữ trong thai kỳ.

Thành phần sinh học của cao quy bản tác động thế nào đến cơ thể?

Theo y học cổ truyền, quy bản là yếm của rùa, vị ngọt, mặn, tính hàn, quy kinh can, thận, tâm. Tác dụng chính được ghi nhận lâu nay là tư âm tiềm dương, bổ thận kiện cốt, chỉ huyết [5, 6]. Vị ngọt béo, nhớt dính của các dạng cao quy bản thể hiện tính chất dưỡng âm sâu nhưng cũng rất dễ gây nê trệ, làm cản trở vận hóa của tỳ vị nếu hệ tiêu hóa không đủ khỏe.

Về mặt hóa học thực nghiệm, nghiên cứu năm 2007 cho thấy dịch chiết yếm rùa bằng ete dầu hỏa chứa hàm lượng cao các axit béo chuỗi dài, cholesterol và cholest-4-en-3-one [1]. Trong đó, axit palmitic, axit stearic và cholest-4-en-3-one là các thành phần sinh học chính kích thích tế bào tăng sinh [1]. Một nghiên cứu khác cùng năm 2007 sử dụng các phương pháp phân tách bằng dung môi khác nhau đã làm rõ phân đoạn chiết bằng ethyl acetate chứa steroid, axit béo và este của chúng [2].

Hàm lượng lipid, axit béo chuỗi dài và este đậm đặc này chính là nguyên nhân dược chất này gây áp lực trực tiếp lên đường tiêu hóa [3, 4]. Một hệ đường ruột kém hấp thu chất béo sẽ nhanh chóng bị quá tải, dẫn đến hiện tượng trướng bụng, khó tiêu và kích ứng tháo rỗng ruột.

Nghiên cứu khoa học nói gì về hoạt chất trong yếm rùa?

Các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu phân tích hoạt tính tế bào học của các nhóm chất chiết từ yếm rùa (Plastrum testudinis).

Nghiên cứu năm 2007 phân tích dịch chiết ete dầu hỏa trên tế bào gốc trung mô tủy xương chuột (bMMSCs) bằng xét nghiệm MTT và đo dòng chảy tế bào (flow cytometry) [1]. Kết quả chứng minh dịch chiết yếm rùa thúc đẩy tăng sinh tế bào gốc nhờ sự hiện diện của các axit béo chuỗi dài như axit palmitic và axit stearic, nhưng không gây tăng sinh quá mức [1]. Giới hạn của nghiên cứu là thử nghiệm in vitro, chưa đánh giá phản ứng hấp thu trên đường tiêu hóa của cơ thể sống.

Một thử nghiệm tế bào khác công bố năm 2007 so sánh chiết xuất yếm rùa qua 4 dung môi: ete dầu hỏa, ethyl acetate, ethanol và nước [2]. Dữ liệu từ nhuộm HE, BrdUrd, hóa mô miễn dịch PCNA cho thấy chỉ có phân đoạn chiết ethyl acetate (PTE) làm tăng sinh tế bào gốc trung mô tủy xương, liên quan đến cơ chế điều hòa tăng BMP4 [2]. Nghiên cứu chỉ ra thành phần PTE gồm steroid, axit béo và este được xác định bằng GC-MS và HPLC [2].

Tại nghiên cứu công bố năm 2011, các nhà khoa học đánh giá tác dụng ức chế chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào gốc biểu bì chuột SD trong điều kiện thiếu huyết thanh [3]. Nhóm dùng phân đoạn ethyl acetate (2B) và các chất riêng lẻ như ethyl stearate (S6), tetradecanoic acid sterol ester (S8), (+)-4-cholesten-3-one (S9) sau 24, 48 và 72 giờ [3]. Phân tích Western blot cho thấy dịch chiết và các este béo này điều hòa tăng protein Bcl-2 và giảm caspase-3 để bảo vệ tế bào [3].

Nghiên cứu công bố năm 2021 tìm hiểu cơ chế bảo vệ xương của dịch chiết yếm rùa (PTE) trên mô hình loãng xương tuổi già [4]. PTE ức chế tạo hủy cốt bào từ tế bào đơn nhân máu ngoại vi của người và trên chuột thực nghiệm phụ thuộc liều lượng bằng cách chặn con đường truyền tín hiệu NF-kappaB/p50, làm giảm biểu hiện gen c-FOS và NFATC1 [4]. Nghiên cứu thực hiện năm 2023 trên mô hình chuột Parkinson cũng khẳng định ethyl stearate – một este của axit stearic trong yếm rùa – phối hợp cùng ghép tế bào gốc giúp điều hòa tín hiệu Drd1/ERK/AP-1 để tăng tính dẻo xi-náp thần kinh [5].

Giới hạn của các bằng chứng hiện tại

Dù các nghiên cứu trên đã chứng minh yếm rùa chứa nhiều hoạt chất sinh học tiềm năng cho phục hồi mô xương và thần kinh [5, 6], hầu hết dữ liệu hiện nay đều mới dừng lại ở mức độ tế bào gốc và mô hình động vật gặm nhấm [3, 4, 7].

Chưa có các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng quy mô lớn ở người để lượng hóa liều dung nạp an toàn trên bộ máy tiêu hóa. Do đó, việc ứng dụng cao quy bản trong đời sống phần lớn vẫn dựa trên kinh nghiệm phối ngũ dược lý cổ truyền, đòi hỏi sự kiểm soát nghiêm ngặt về cơ địa người dùng.

4 nhóm đối tượng không nên dùng cao quy bản

Từ đặc tính nê trệ, hàm lượng axit béo đậm đặc và tính hàn sâu của dược liệu [3, 4], 4 nhóm đối tượng sau tuyệt đối không nên tùy tiện sử dụng:

Thứ nhất, người tỳ vị hư hàn. Những người có biểu hiện bụng hay sôi, ăn chậm tiêu, sợ lạnh, dễ đau bụng âm ỉ khi ăn đồ nguội mát không thể chuyển hóa tốt các axit béo chuỗi dài và este đậm đặc có trong cao quy bản [3, 4]. Tính nê trệ và tính hàn của cao sẽ làm tổn hại thêm dương khí của tỳ vị, dẫn đến trướng bụng kéo dài.

Thứ hai, người mắc chứng tiêu chảy mạn tính hoặc đi phân lỏng nát. Quá trình tiêu hóa và hấp thu lượng lớn lipid, cholesterol cùng axit stearic đòi hỏi hệ tiêu hóa hoạt động tối đa [3, 4]. Khi đường ruột đang suy yếu hoặc viêm mạn tính, các chất béo không dung nạp này sẽ kéo theo nước vào lòng ruột, khiến triệu chứng phân lỏng trở nên trầm trọng hơn.

Thứ ba, phụ nữ mang thai. Y học cổ truyền xếp cao quy bản vào nhóm dưỡng âm nhưng có tác dụng hoạt huyết trục ứ, tác động mạnh vào hạ tiêu. Dược liệu này chưa có dữ liệu lâm sàng xác lập tính an toàn cho thai nhi, do đó phụ nữ có thai cần kiêng kỵ tuyệt đối để tránh kích thích tử cung ngoài ý muốn.

Thứ tư, người có thấp nhiệt trệ, rêu lưỡi vàng dày, đầy chướng do ứ trệ thức ăn. Bổ sung một vị thuốc giàu dưỡng chất và nhớt dính vào cơ thể đang ứ trệ sẽ khiến tình trạng đầy trướng, bức rối trong ngực bụng trở nên nghiêm trọng hơn.

Hiểu lầm thường gặp khi sử dụng cao quy bản

Nhiều người lầm tưởng "đã là cao động vật quý thì càng gầy yếu càng phải uống nhiều". Đây là quan niệm rất sai lầm. Người gầy sút nhưng đường tiêu hóa kém (tỳ hư) uống cao quy bản vào sẽ không thể hấp thu, ngược lại còn sinh tiêu chảy, mất nước và sụt cân nhanh hơn.

Hiểu lầm khác là dùng cao quy bản thay thế hoàn toàn các thuốc điều trị loãng xương hay thoái hóa khớp hiện đại. Mặc dù chiết xuất yếm rùa có khả năng ức chế hủy cốt bào trên mô hình động vật [4], đây không phải là thuốc chữa dứt điểm bệnh xương khớp trên người và không thể thay thế phác đồ y khoa chuẩn mực.

Hướng dẫn dùng an toàn và cách khắc phục tính nê trệ

Khi cơ địa phù hợp và có chỉ định dùng cao quy bản, người dùng cần lưu ý một số nguyên tắc:

  • Liều dùng: Thường dùng từ 8 - 12g mỗi ngày dưới dạng cắt nhỏ hòa tan cùng cháo nóng hoặc nước sắc thuốc. Không nên lạm dụng liều cao vượt ngưỡng để tránh quá tải cho dạ dày.
  • Phối ngũ gia giảm: Nhằm khắc phục tính nê trệ, khó tiêu của các axit béo [3, 4], cổ nhân thường phối hợp cao quy bản với các vị thuốc kiện tỳ, hành khí như trần bì (vỏ quýt chín), sa nhân, bạch biển đậu hoặc gừng tươi. Các dược liệu này giúp trợ vận cho tỳ vị, hỗ trợ chuyển hóa chất béo tốt hơn.
  • Thời điểm dùng: Nên uống khi còn ấm, dùng sau bữa ăn chính khoảng 1 giờ. Tránh uống vào lúc đói hoặc ngay sát giờ đi ngủ ban đêm vì dễ gây nặng bụng, mất ngủ.

Cao quy bản là vị thuốc quý bồi bổ âm khí và xương khớp nhưng lại chứa nhiều axit béo chuỗi dài dễ gây nê trệ đường tiêu hóa [3, 4]. Người dùng tuyệt đối không tự ý mua dùng khi chưa có thăm khám từ bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền, nhất là những người bụng dạ yếu hay có bệnh lý nền tiêu hóa.