Nhiều người Việt có thói quen tìm mua hà thủ ô để sắc nước uống hoặc dùng viên hoàn nhằm mục đích làm đen róc, giảm rụng tóc và tăng cường sinh lực [1]. Quan niệm "thuốc Nam, thuốc Bắc bổ dưỡng, không tác dụng phụ" khiến không ít người tự ý dùng kéo dài nhiều tháng liền mà không qua thăm khám bác sĩ.
Thực tế y học chứng minh điều ngược lại: hà thủ ô (Polygonum multiflorum) là vị thuốc có ghi nhận rủi ro tổn thương gan nghiêm trọng, độc tính phôi thai và kích ứng đường ruột [2]. Dưới đây là 4 nhóm đối tượng đặc biệt không nên tự ý dùng hà thủ ô để bồi bổ.
Vì sao hà thủ ô vừa được khen ngợi vừa tiềm ẩn độc tính?
Trong y học cổ truyền và lâm sàng, hà thủ ô được ứng dụng chữa chứng tăng lipid máu, tóc bạc sớm, rụng tóc, tăng huyết áp hay bạch biến [1]. Củ hà thủ ô chứa các hoạt chất như chrysophanol, emodin, lecithin và stilbene glycoside, có tác dụng điều hòa chuyển hóa lipid, giảm ALT, AST và hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ trên mô hình nghiên cứu tế bào gan L-02 và chuột [3].
Tuy nhiên, hà thủ ô lại bộc lộ tính chất hai mặt: vừa có tiềm năng bảo vệ vừa có khả năng gây độc gan [2]. Cơ chế gây độc được ghi nhận có liên quan đến các hợp chất anthraquinone tự do như emodin, physcion hoặc chất stilbene glucoside [2], [4]. Độc tính gan của dạng nước sắc sống thường mạnh hơn dạng chiết xuất cồn hay acetone, và hà thủ ô sống độc hơn dạng đã qua chế biến (nấu với đậu đen) [2], [5]. Ranh giới giữa lợi ích và độc tính phụ thuộc rất lớn vào liều lượng và thời gian: liều thấp hoặc ngắn hạn có thể hỗ trợ bảo vệ, nhưng dùng liều cao và kéo dài rất dễ bộc phát độc tính [2].
1. Người có tiền sử bệnh gan hoặc men gan cao
Nhóm đối tượng đầu tiên phải cẩn trọng tối đa là người có bệnh nền về gan (viêm gan virus, xơ gan, gan nhiễm mỡ tiến triển) [5]. Báo cáo an toàn lâm sàng trên thế giới ghi nhận độc tính nổi bật nhất của hà thủ ô là tổn thương gan (hepatotoxicity) [2], [6]. Tổn thương này xảy ra dưới dạng độc tính nội tại (intrinsic) có thể tái hiện trên động vật thí nghiệm [5].
Một nghiên cứu hồi cứu công bố năm 2015 trên 158 bệnh nhân bị tổn thương gan do thuốc (DILI) liên quan đến hà thủ ô tại Bệnh viện Quân y 302 cho thấy những số liệu đáng lo ngại [7]. Trong số 66 bệnh nhân chỉ dùng đơn độc hà thủ ô hoặc chế phẩm của nó, có tới 93,9% trường hợp (62 ca) xảy ra khi dùng hà thủ ô đã qua chế biến, và 6,1% (4 ca) dùng hà thủ ô sống [7]. Kiểu tổn thương chủ yếu là tổn thương tế bào gan (chiếm 92,4%), sinh thiết gan phát hiện thoái hóa và hoại tử tế bào gan, tăng sinh sợi và thâm nhiễm nhiều bạch cầu ái toan [7]. Đáng chú ý, trong nhóm này có 4 trường hợp tiến triển thành suy gan, 4 ca chuyển xơ gan và 1 ca tử vong [7].
Người đã có bệnh lý gan từ trước khi dùng thêm hà thủ ô sẽ khiến tế bào gan bị quá tải chuyển hóa, tăng nguy cơ hoại tử tế bào gan nặng nề hơn [7], [5].
2. Người có đường tiêu hóa yếu, dễ tiêu chảy, viêm ruột mãn tính
Hà thủ ô có tác dụng nhuận tràng, làm mềm phân và kích thích nhu động đường tiêu hóa [3], [4]. Tác dụng này bắt nguồn từ nhóm hợp chất anthraquinone kích thích co bóp cơ trơn thành ruột [3].
Đối với những người vốn có đường tiêu hóa nhạy cảm, viêm ruột mãn tính hoặc hội chứng ruột kích thích, việc dùng hà thủ ô rất dễ gây ra tác dụng phụ viêm ruột mạn tính, tiêu chảy kéo dài hoặc dị ứng [1]. Các anthraquinone tự do làm tăng tiết dịch và co bóp quá mức, dẫn đến mất cân bằng điện giải và suy giảm chức năng hấp thu của ruột. Vì vậy, người đang bị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy mạn không nên tự ý dùng vị thuốc này để tẩm bổ [1].
3. Phụ nữ mang thai và người trong độ tuổi sinh sản
Nhiều người nghĩ rằng thảo dược tự nhiên lành tính cho bà bầu mệt mỏi, suy nhược. Tuy nhiên, các nghiên cứu tổng quan độc tính học năm 2014 đã ghi nhận hà thủ ô có độc tính trên phôi thai (embryonic toxicity) bên cạnh độc tính gây hại gan và thận [2].
Dữ liệu an toàn trên thai kỳ hiện tại cho thấy việc tiếp xúc với các hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh trong hà thủ ô có thể đe dọa sự phát triển bình thường của phôi thai [2]. Ngoài ra, dữ liệu về việc liệu thảo dược này có gây độc cho phụ nữ nhạy cảm hormone hay các bệnh lý liên quan đến estrogen hiện chưa có trích dẫn nghiên cứu lâm sàng trực tiếp trên người; các bằng chứng độc tính hiện có chủ yếu tập trung vào tổn thương gan, thận và phôi thai [2]. Do đó, phụ nữ có thai hoặc đang chuẩn bị mang thai cần kiêng hoàn toàn việc tự ý uống hà thủ ô [2].
4. Người đang sử dụng thuốc điều trị chuyển hóa qua gan
Những người đang dùng thuốc trị bệnh mạn tính (như thuốc chống đông, thuốc tim mạch, thuốc dạ dày, tiểu đường) nếu tự ý uống hà thủ ô cùng lúc sẽ đối mặt với nguy cơ tương tác thuốc nguy hiểm [7], [8].
Nghiên cứu thực nghiệm năm 2015 trên chuột đực và chuột cái chia làm 5 nhóm (đối chứng, nhóm chiết xuất cồn 15 g/kg và 30 g/kg, nhóm chiết xuất nước 15 g/kg và 30 g/kg) cho uống liên tục trong 28 ngày nhằm đo hoạt tính các enzyme cytochrome P450 [8]. Kết quả cho thấy dịch chiết nước của hà thủ ô ức chế hàng loạt enzyme chuyển hóa quan trọng gồm CYP2B6, CYP2C19, CYP2C9, CYP1A2 và CYP2D6; trong khi dịch chiết cồn ức chế CYP2C19, CYP2C9 và gây cảm ứng CYP1A2 [8].
Sự thay đổi hoạt tính các men CYP450 làm sai lệch nồng độ thuốc điều trị trong máu, tăng nguy cơ ngộ độc thuốc Tây đi kèm hoặc làm mất hiệu quả điều trị của thuốc [8]. Nghiên cứu năm 2015 cũng chỉ ra 58,2% trường hợp tổn thương gan xảy ra khi bệnh nhân kết hợp hà thủ ô cùng thuốc Tây hoặc thảo dược khác [7].
Hiểu lầm thường gặp: "Hà thủ ô chế biến là an toàn tuyệt đối"
Sai lầm phổ biến nhất của người dùng là tin rằng chỉ cần ninh nấu hà thủ ô với đậu đen (dạng chế biến) thì có thể uống bao nhiêu cũng được mà không sợ độc.
Đúng là quá trình chế biến làm giảm dần hàm lượng stilbene glucoside và làm giảm mức độ độc đối với gan so với dạng củ sống [4]. Độc tính gan trên chuột bình thường giảm dần theo thời gian đồ sấy hà thủ ô [4]. Tuy nhiên, sự giảm bớt này không đồng nghĩa với an toàn tuyệt đối [5]. Thống kê lâm sàng năm 2015 cho thấy có tới 93,9% ca tổn thương gan lại đến từ chính dạng hà thủ ô đã qua chế biến [7]. Ngoài ra, sau khi chế biến, hàm lượng emodin và physcion tự do lại có xu hướng gia tăng [2]. Do đó, dù dùng hà thủ ô chế biến, người dùng vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt về liều lượng và thời gian, không được dùng bừa bãi [2], [7].
Khuyến cáo sử dụng và phòng ngừa rủi ro
Hà thủ ô vẫn là một dược liệu có giá trị cao trong y học nếu được dùng đúng chỉ định, đúng cách thức và đúng thể bệnh [1], [3]. Để sử dụng an toàn, bạn nên lưu ý:
- Không tự ý thu hái củ tươi về phơi khô sắc uống vì dịch chiết nước thô từ hà thủ ô sống có độc tính gan cao nhất [2], [5].
- Không sử dụng các bài thuốc truyền miệng, các sản phẩm trôi nổi không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc không được kiểm định chất lượng [1], [6].
- Tránh dùng hà thủ ô liều cao hoặc dùng liên tục trong nhiều tháng liền để phòng ngừa tích lũy độc chất [2].
- Khi dùng, nếu xuất hiện các dấu hiệu như mệt mỏi bất thường, nước tiểu sẫm màu, vàng da, vàng mắt, chán ăn, buồn nôn, cần ngừng ngay lập tức và đến bệnh viện kiểm tra chức năng gan (AST, ALT, Bilirubin) [3], [7].
Hà thủ ô không phải là vị thuốc bổ vô hại có thể dùng tùy tiện. Việc bồi bổ sức khỏe và chăm sóc mái tóc cần kết hợp lối sống lành mạnh, ăn uống đủ chất, ngủ đủ giấc. Khi muốn sử dụng hà thủ ô để điều trị bệnh, hãy luôn tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền để được đánh giá thể trạng, liều lượng và theo dõi an toàn chức năng gan [1], [6].
