Trào lưu dùng rễ cây nữ lang và câu hỏi về tính an toàn

Nhiều người khi gặp tình trạng khó ngủ, căng thẳng kéo dài thường có xu hướng tìm kiếm các loại trà hoặc viên uống bổ sung từ thảo mộc vì tin rằng thảo mộc tự nhiên thì vô hại. Trong số các loài thực vật được sử dụng cho giấc ngủ, rễ cây nữ lang (Valeriana officinalis) là một trong những cái tên quen thuộc và được bày bán rộng rãi trên thị trường dưới dạng thực phẩm chức năng [1].

Tuy nhiên, liệu rễ cây nữ lang có thực sự phù hợp với bất kỳ ai muốn tìm kiếm giấc ngủ ngon? Câu trả lời ngắn gọn là không. Dù được xem là tương đối an toàn trong nhiều thử nghiệm lâm sàng đối với người trưởng thành khỏe mạnh [2], [1], rễ nữ lang vẫn có những đặc tính dược lý tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương và quá trình chuyển hóa, từ đó tiềm ẩn rủi ro đáng kể cho 4 nhóm đối tượng: người đang dùng thuốc ức chế thần kinh, người chuẩn bị phẫu thuật, người có bệnh lý về gan và phụ nữ mang thai.

Nữ lang tác động lên cơ thể như thế nào?

Cây nữ lang là loài thực vật lâu năm được y học cổ truyền sử dụng qua nhiều thế kỷ để an thần, làm dịu lo âu, cải thiện chứng mất ngủ, thậm chí dùng chữa co thắt đường tiêu hóa và lợi tiểu [3]. Cơ chế chính giúp nữ lang tạo nên cảm giác thư giãn bắt nguồn từ sự tương tác của các hoạt chất chiết xuất từ rễ với hệ thống thụ thể acid gamma-aminobutyric type A (GABA-A) trong não bộ [4].

GABA là chất dẫn truyền thần kinh ức chế chủ chốt của hệ thần kinh trung ương, chịu trách nhiệm kìm hãm hoạt động của tế bào thần kinh, từ đó mang lại hiệu quả giãn cơ và gây buồn ngủ [5]. Nghiên cứu tiền lâm sàng ghi nhận các thành phần trong chiết xuất cây nữ lang có tác dụng an thần và làm giãn cơ bắp rõ rệt [5]. Bên cạnh đó, việc kích hoạt thụ thể GABA-A của thảo dược này cũng được quan sát thấy làm thay đổi một số quá trình phân chia và phát triển của tế bào ở cấp độ mô bệnh học [4].

Dữ liệu khoa học: Lợi ích và những tranh cãi xung quanh hiệu quả

Mặc dù được ứng dụng rộng rãi, bằng chứng khoa học về hiệu quả của cây nữ lang vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất [2], [1]. Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2003 cho thấy nữ lang giúp cải thiện trải nghiệm chủ quan về giấc ngủ khi dùng đều đặn mỗi đêm trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 tuần, đặc biệt hỗ trợ rút ngắn thời gian đi vào giấc ngủ ở người mất ngủ từ nhẹ đến trung bình [2]. Tuy vậy, hiệu quả khi chỉ dùng một liều đơn lẻ lại đưa ra kết quả trái ngược, đồng thời dữ liệu cho chứng lo âu nhẹ vẫn còn rất hạn chế và còn thiếu các nghiên cứu an toàn dài hạn [2].

Đến năm 2007, một tổng quan hệ thống toàn diện rà soát từ 592 bài báo để chọn ra 36 bài (mô tả 37 nghiên cứu riêng biệt, gồm 29 thử nghiệm có đối chứng đánh giá hiệu quả lẫn an toàn và 8 thử nghiệm nhãn mở chỉ đánh giá độ an toàn) lại đưa ra kết luận thận trọng hơn [1]. Phân tích này cho thấy phần lớn các nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa nữ lang và giả dược ở cả người khỏe mạnh lẫn người bị rối loạn giấc ngủ [1]. Đáng chú ý, các nghiên cứu gần nhất và có phương pháp kiểm soát chặt chẽ nhất đều không ghi nhận tác dụng rõ ràng của nữ lang trong điều trị mất ngủ, dù dữ liệu khẳng định đây là thảo dược khá lành tính với tỷ lệ tác dụng phụ rất hiếm gặp [1].

Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp khác năm 2020 trên 60 nghiên cứu với tổng cộng 6.894 người tham gia cũng củng cố tính an toàn chung của thảo dược này trên nhiều lứa tuổi [6]. Tuy vậy, nghiên cứu này chỉ ra một số ít người gặp phản ứng kích thích ngược như bồn chồn, kích động [6]. Ở phụ nữ lớn tuổi bị mất ngủ, chiết xuất nữ lang làm tăng thời gian thức giấc sau khi bắt đầu ngủ (WASO) [6]. Dùng liều cao có thể làm tăng cảm giác lo âu trong khi liều thấp lại giải lo âu [6]. Dù vậy, 6 nghiên cứu đánh giá chức năng nhận thức ở người khỏe mạnh và người cao tuổi tình nguyện dùng liều chuẩn hóa từ 100 mg đến 1.600 mg rễ nữ lang cho thấy thảo mộc này không làm suy giảm nhận thức hay vận động tâm thần, an toàn hơn so với các thuốc nhóm benzodiazepine (triazolam, temazepam) hoặc thuốc kháng histamin diphenhydramine [6].

4 nhóm người không nên tự ý dùng rễ cây nữ lang

Dựa trên dữ liệu dược lý và các thử nghiệm khoa học, có 4 nhóm người không nên tự ý sử dụng hoặc cần tránh tuyệt đối loại thảo dược này nếu chưa có chỉ định y tế chuyên môn:

1. Người đang sử dụng thuốc ức chế thần kinh hoặc thuốc an thần: Do rễ nữ lang kích hoạt thụ thể GABA-A và có đặc tính an thần [4], [5], việc tự ý phối hợp thảo dược này với các loại thuốc hướng thần có thể gây ra tương tác bất lợi nghiêm trọng [7]. Nghiên cứu năm 2008 tiến hành trên chuột thí nghiệm để đánh giá tương tác giữa nữ lang và thuốc chống loạn thần haloperidol cho thấy: khi dùng riêng rẽ, nữ lang không làm thay đổi các chỉ số stress oxy hóa ở gan hay thận [7]. Tuy nhiên, khi kết hợp haloperidol cùng nữ lang, mức độ peroxy hóa lipid và các gốc oxy hóa phản ứng DCFH trong mô gan gia tăng rõ rệt [7]. Đồng thời, sự phối hợp này gây ức chế hoạt tính enzyme delta-ALA-D ở gan và làm tăng chỉ số tái hoạt hóa delta-ALA-D (dấu hiệu chỉ báo tình trạng stress oxy hóa) cùng sự gia tăng nồng độ men gan ALT huyết thanh [7].

2. Người chuẩn bị trải qua phẫu thuật: Các đặc tính gây giãn cơ và làm dịu ức chế thần kinh trung ương của nữ lang [5] có thể cộng hưởng khó lường với các loại thuốc tiền mê, thuốc gây mê hoặc thuốc giảm đau dùng trong phòng mổ. Mặc dù tổng quan năm 2020 ghi nhận nữ lang không tác động đáng kể lên mức độ biểu hiện của các men chuyển hóa cytochrome P450 như CYP1A2, CYP2D6, CYP2E1 và CYP3A4/5 [6], nhưng nguy cơ kích thích ngược hoặc làm chậm quá trình phục hồi tri giác do ức chế thần kinh vẫn là lý do giới y khoa khuyến cáo bệnh nhân cần thông báo và ngừng thảo mộc trước khi phẫu thuật.

3. Người có bệnh lý nền về gan: Các dữ liệu về gan của cây nữ lang hiện đang thể hiện tính hai mặt phức tạp trên mô hình động vật. Một mặt, nghiên cứu năm 2014 trên chuột cống F344 đực cho thấy chiết xuất loài Valeriana sitchensis ở các nồng độ 50, 500 và 5.000 ppm pha trong nước uống lại có khả năng ức chế sự hình thành các ổ tổn thương tiền ung thư gan (GST-P+) do hóa chất diethylnitrosamine (DEN) gây ra, giảm tổn thương oxy hóa DNA nhờ kích hoạt tín hiệu qua thụ thể GABA-A [4]. Mặt khác, như nghiên cứu năm 2008 đã chứng minh, khi kết hợp với thuốc điều trị khác như haloperidol, nữ lang lại làm tăng stress oxy hóa và đẩy men gan ALT lên cao [7]. Do đó, người bị suy giảm chức năng gan, viêm gan hay xơ gan không được tự ý dùng vì cơ quan này vốn đã nhạy cảm với các gánh nặng chuyển hóa.

4. Phụ nữ đang mang thai: Theo quan niệm y học truyền thống, rễ nữ lang từ lâu đã bị chống chỉ định cho phụ nữ mang thai [3]. Một nghiên cứu năm 2007 trên chuột cống mang thai dùng chiết xuất nữ lang hòa tan trong ethanol 45% (ở các ngày thai kỳ 1-8 hoặc 8-15) với liều cao gấp tới 65 lần liều thông thường ở người ghi nhận không có độc tính cho chuột mẹ hay dị tật thai nhi bên ngoài [3]. Nghiên cứu độc tính năm 2024 trên chuột cống mang thai dùng dịch chiết nước ở các mức liều 3,5; 7 và 14 g/kg thể trọng cũng không quan sát thấy sự thay đổi độc tính hình thái phôi thai hay dị tật nội tạng, xương [8]. Tuy nhiên, nghiên cứu năm 2007 cảnh báo: khi nuôi cấy phôi chuột 10,5 ngày tuổi trực tiếp trong huyết thanh có thêm 6 microlit/ml dịch chiết nữ lang trong 26 giờ, độc tính trên phôi đã xuất hiện rõ [3]. Các nhà khoa học lưu ý rằng những chế phẩm nữ lang khác nhau, đặc biệt nếu chứa hàm lượng valepotriates cao, có thể dẫn tới hậu quả nhiễm độc tế bào khó lường [3]. Vì chưa có nghiên cứu an toàn đầy đủ trên phụ nữ mang thai người thật, nhóm đối tượng này tuyệt đối không nên mạo hiểm tự sử dụng.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng rễ nữ lang

Sai lầm phổ biến nhất là quan niệm "uống một viên thảo dược sẽ chìm vào giấc ngủ ngay lập tức". Thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác dụng sau một liều đơn lẻ của nữ lang là không nhất quán và không rõ rệt [2]. Thảo dược này thường cần được dùng đều đặn hàng đêm trong 1 đến 2 tuần để người dùng cảm nhận được sự thay đổi chủ quan [2]. Việc nóng vội tăng liều trong đêm đầu tiên không giúp ngủ nhanh hơn mà còn có thể gây lo âu, bồn chồn do tác dụng kích thích ngược [6].

Một hiểu lầm khác là cho rằng nữ lang có thể thay thế hoàn toàn các thuốc kê đơn điều trị tâm thần hoặc mất ngủ mạn tính. Mặc dù chiết xuất chuẩn hóa liều từ 100 mg đến 1.600 mg an toàn cho nhận thức hơn thuốc nhóm benzodiazepine [6], nữ lang không phải là thuốc đặc trị thay thế. Ngược lại, việc tự ý uống chung với thuốc an thần như đã phân tích có thể dẫn đến ức chế men gan và tổn thương oxy hóa mô gan nghiêm trọng [7].

Khuyến cáo áp dụng thực tế và an toàn

Nếu bạn là người trưởng thành khỏe mạnh, không thuộc các nhóm chống chỉ định và muốn dùng rễ nữ lang để cải thiện tình trạng thao thức ban đêm, hãy tham khảo các nguyên tắc thực tế sau:

  • Liều lượng và cách dùng: Các thử nghiệm an toàn trên người đã đánh giá chiết xuất chuẩn hóa từ rễ Valeriana officinalis ở mức từ 100 mg đến 1.600 mg [6]. Khảo sát độc tính cấp trên chuột với dịch chiết nước cho thấy mức liều 96 g/kg thể trọng không gây tử vong hay hành vi bất thường [8]. Tuy nhiên, trên người, nên bắt đầu ở liều thấp theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc dược sĩ để tránh phản ứng kích thích bồn chồn [6].
  • Thời gian sử dụng: Bằng chứng cải thiện giấc ngủ chủ quan ghi nhận tốt nhất khi dùng liên tục 1 đến 2 tuần trước giờ ngủ [2]. Không nên lạm dụng kéo dài liên tục nhiều tháng vì hiện nay vẫn còn thiếu các nghiên cứu dài hạn về tính an toàn của thảo dược này [2].
  • Tác dụng không mong muốn cần theo dõi: Trong quá trình sử dụng, một số ít trường hợp có thể gặp hiện tượng mơ nhiều, mệt mỏi, chóng mặt, buồn ngủ ngày hoặc khó chịu đường tiêu hóa [6]. Nếu xuất hiện cảm giác bồn chồn, lo âu tăng lên hoặc rối loạn tiêu hóa, cần ngưng dùng ngay [6].

Rễ cây nữ lang là một thảo mộc hỗ trợ giấc ngủ có lịch sử lâu đời và hồ sơ an toàn tương đối tốt đối với người bình thường. Tuy vậy, thảo dược không đồng nghĩa với an toàn tuyệt đối. Để bảo vệ sức khỏe, người có bệnh lý gan, người chuẩn bị lên bàn mổ, phụ nữ có thai và những ai đang uống thuốc thần kinh cần thăm khám và hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi sử dụng bất kỳ chế phẩm nào từ rễ nữ lang.