Nhiều người Việt có thói quen dùng nghệ xanh hoặc các sản phẩm từ củ nghệ để bồi bổ cơ thể, trị bệnh đường tiêu hóa hay cải thiện các vấn đề viêm nhiễm mãn tính. Tuy nhiên, suy nghĩ "thảo dược tự nhiên thì hoàn toàn vô hại" là một quan niệm sai lầm có thể dẫn đến nhiều hệ lụy cho sức khỏe. Dù nghệ và các hoạt chất của nó đem lại nhiều lợi ích tiềm năng, dược liệu này không dành cho tất cả mọi người và vẫn mang những nguy cơ độc tính nhất định nếu dùng sai cách hoặc dùng quá liều.
Nhóm người có tiền sử bệnh lý gan, sỏi mật, chuẩn bị phẫu thuật, tim mạch hay cơ địa quá mẫn cần đặc biệt thận trọng trước khi bổ sung nghệ xanh hay các chế phẩm chiết xuất đậm đặc liều cao.
Cơ chế tác động và vấn đề độc tính liều của nghệ xanh
Củ nghệ và các loài thuộc chi Nghệ chứa nhiều hoạt chất sinh học, tiêu biểu là các polyphenol như curcumin, cùng hỗn hợp tinh dầu bay hơi chứa curcumol, germacrone hay ar-turmerone [3, 5]. Vấn đề lớn nhất khi sử dụng qua đường tiêu hóa là các hoạt chất này thường có độ hấp thu và sinh khả dụng thấp, dẫn đến việc người dùng hay có xu hướng uống ở liều lượng rất cao nhằm mong muốn đạt được hiệu quả [1, 2].
Khi đưa vào cơ thể ở mức liều điều trị hoặc liều cao, các hoạt chất này có khả năng tương tác phức tạp với nhiều hệ thống enzyme trong cơ thể [1]. Chẳng hạn, curcumin được ghi nhận có khả năng ức chế enzyme glutathione S-transferase (GST), làm suy giảm cơ chế giải độc tự nhiên của tế bào và làm tăng nguy cơ tương tác thuốc bất lợi [1]. Ngoài ra, việc dùng liều quá cao có thể gây độc cho tế bào bình thường hoặc làm thay đổi các chỉ số sinh hóa máu mà người bệnh không hay biết [3, 4].
Nghiên cứu khoa học nói gì về mức độ an toàn của nghệ?
Nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành để xác định ranh giới an toàn của các hoạt chất chiết xuất từ chi Nghệ:
Một tổng quan công bố năm 2017 đánh giá curcumin có hồ sơ an toàn tốt ngay cả khi dùng đến vài gam, nhưng nhấn mạnh rằng độ sinh khả dụng thấp khiến hoạt chất này thích hợp hơn với các tác động tại chỗ như niêm mạc ruột thay vì tác động toàn thân [2]. Nghiên cứu năm 2020 ghi nhận curcumin nhìn chung an toàn theo đánh giá của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) [1]. Liều đề xuất tối đa rất rộng, từ 3 mg/kg thể trọng cho đến 10 g mỗi ngày; một thử nghiệm lâm sàng trên người tình nguyện khỏe mạnh dùng liều 12 g/ngày không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng [1]. Nghiên cứu giai đoạn I trên 25 đối tượng dùng tới 8.000 mg curcumin mỗi ngày trong 3 tháng cũng không thấy độc tính rõ rệt, và 5 thử nghiệm khác trên người dùng 1.125-2.500 mg/ngày cũng ghi nhận kết quả an toàn [1].
Về mặt độc tính trên động vật, nghiên cứu năm 2015 trên chuột cống và chuột nhắt với phức hợp curcuminoid-tinh dầu (CEC) cho thấy mức liều đơn cấp tính 5.000 mg/kg không gây triệu chứng độc hay tử vong, và liều lặp lại 1.000 mg/kg trong 90 ngày trên chuột Wistar không gây biến đổi mô bệnh học [3]. Nghiên cứu năm 2022 trên chuột Sprague-Dawley với chiết xuất CURCUGEN cũng cho thấy liều gây chết 50% (LD50) lớn hơn 5.000 mg/kg và mức không quan sát thấy tác dụng phụ (NOAEL) sau 90 ngày là 2.000 mg/kg/ngày [4]. Đối với cây nghệ xanh (Curcuma aeruginosa Roxb.), nghiên cứu năm 2020 trên công thức thảo dược chứa dược liệu này dùng trên chuột Wistar cho thấy LD50 trên 2.000 mg/kg và mức liều 252-4.032 mg/kg suốt 91 ngày không gây tổn thương các cơ quan nội tạng [5].
Nghiên cứu năm 2023 đánh giá độc tính lặp lại trong 28 ngày của curcumol - hoạt chất sesquiterpene có trong tinh dầu nghệ - trên chuột SD ở các mức liều 250, 500 và 1.000 mg/kg qua đường uống [6]. Kết quả cho thấy curcumol tác động lên hệ thống máu, làm thay đổi một số chỉ số huyết học và sinh hóa cũng như khối lượng cơ quan, dù chưa xuất hiện dấu hiệu tổn thương vi thể [6]. Một nghiên cứu năm 2022 về loài Curcuma singularis Gagnep tại Việt Nam cũng chỉ ra rằng chiết xuất chứa curcumol, germacrone và ar-turmerone có tác dụng ức chế tế bào ung thư nhưng đồng thời cũng kích hoạt các chuỗi phản ứng liên quan đến chết rụng tế bào [7].
Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay
Đa số dữ liệu độc tính liều lượng hiện có mới chỉ dừng lại ở các mô hình động vật gặm nhấm (chuột cống, chuột nhắt) hoặc thử nghiệm in vitro trên dòng tế bào biệt lập [2, 3, 5, 7, 8]. Các phản ứng sinh học trên động vật không thể phản ánh chính xác hoàn toàn tác động trên cơ thể người do sự khác biệt lớn về chuyển hóa qua gan và đào thải qua thận.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu lâm sàng trên người chủ yếu tập trung vào người khỏe mạnh hoặc nhóm bệnh nhân ung thư, dùng chiết xuất curcumin tinh khiết từ củ nghệ vàng thông thường (Curcuma longa) chứ không phải nghệ xanh tươi [1, 4, 6]. Do đó, người tiêu dùng không thể tự ý ngoại suy kết quả an toàn của hoạt chất tinh khiết sang việc lạm dụng củ nghệ xanh tự nhiên với thành phần hóa học phức tạp.
5 nhóm người nên cẩn trọng trước khi dùng củ nghệ xanh
Dựa trên dữ liệu về tác động sinh học và độc tính theo liều, có 5 nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu tâm:
Thứ nhất, người mắc bệnh gan hoặc suy giảm chức năng gan. Thời gian gần đây đã có những báo cáo lâm sàng về nguy cơ tổn thương gan liên quan đến các sản phẩm bổ sung nghệ dùng kéo dài [8]. Một nghiên cứu năm 2021 nhấn mạnh rằng các chất phụ gia ức chế con đường thải độc tự nhiên hoặc tạp chất kim loại nặng trong chế phẩm kém chất lượng có thể kích hoạt tổn thương gan [8]. Hơn nữa, việc ức chế enzyme giải độc GST ở mức liều cao có thể làm tăng gánh nặng chuyển hóa tế bào gan, gây nguy hiểm cho người vốn đã có men gan cao hoặc xơ gan [1].
Thứ hai, người bệnh sỏi mật, tắc nghẽn đường mật. Mặc dù các nghiên cứu cho thấy liều thông thường dung nạp tốt, các hoạt chất kích thích tiêu hóa trong củ nghệ có thể thúc đẩy tiết mật mạnh mẽ, dễ gây ra các cơn đau quặn mật hoặc làm tăng nguy cơ kẹt sỏi ở người có bệnh lý đường mật sẵn có.
Thứ ba, người chuẩn bị bước vào phẫu thuật. Tinh dầu và các thành phần trong các loài nghệ từ lâu đã được y học cổ truyền ghi nhận tác dụng tán ứ, kích thích lưu thông máu và chống đông máu tự nhiên [6]. Thử nghiệm dùng liều lặp lại trên chuột đã chứng minh hoạt chất curcumol trong tinh dầu nghệ gây biến đổi các thông số huyết học [6]. Tác động này có thể làm tăng nguy cơ chảy máu khó cầm trong và sau quá trình phẫu thuật nếu dùng lượng lớn.
Thứ tư, người có vấn đề tim mạch hoặc đang điều trị thuốc tim. Các nghiên cứu cơ chế cho thấy hoạt chất trong củ nghệ có thể gây ức chế kênh ion hERG (human ether-a-go-go-related gene), một cơ chế liên quan mật thiết đến nguy cơ gây độc cho tim và rối loạn nhịp [1]. Do đó, bệnh nhân tim mạch cần tham khảo kỹ bác sĩ chuyên khoa thay vì tự ý dùng nghệ xanh liều cao.
Thứ năm, người có cơ địa dị ứng, quá mẫn. Dù nhiều chiết xuất thương mại được chứng nhận không gây dị ứng trên mô hình thí nghiệm, tinh dầu nghệ tự nhiên chứa hàng chục hợp chất sesquiterpene dễ bay hơi có thể kích ứng niêm mạc dạ dày hoặc làm khởi phát dị ứng ở những người có cơ địa nhạy cảm [3, 6].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng củ nghệ
Một sai lầm rất phổ biến là nhiều người tin rằng củ nghệ xanh "chữa khỏi" được viêm loét dạ dày hay các khối u ung thư. Trên thực tế, nghiên cứu năm 2017 chỉ ra rằng các hoạt chất này chỉ đóng vai trò hỗ trợ điều trị tự nhiên và làm giảm tác dụng phụ của hóa xạ trị, chứ không thay thế được phác đồ y khoa [2].
Một ngộ nhận khác là quan niệm "dùng càng nhiều càng nhanh khỏi". Nghiên cứu độc tính đã cảnh báo curcumin ở nồng độ cao trong ống nghiệm có thể gây độc cho chính các tế bào bạch cầu lympho bình thường và các dòng tế bào khỏe mạnh của con người thông qua việc kích hoạt chết tế bào hàng loạt [4, 5].
Lời khuyên áp dụng an toàn trong đời sống
Người tiêu dùng nên sử dụng nghệ xanh như một loại gia vị nấu ăn thông thường với lượng vừa phải, thay vì xay uống sống nguyên củ với lượng lớn mỗi ngày. Không nên tự ý phối trộn tinh dầu nghệ đậm đặc hoặc kết hợp các sản phẩm chiết xuất nghệ với thuốc điều trị mãn tính nếu chưa có ý kiến chuyên môn từ bác sĩ [1].
Đối với những người chuẩn bị làm thủ thuật ngoại khoa hoặc phẫu thuật, tốt nhất nên ngừng sử dụng các sản phẩm bổ sung từ nghệ trước đó theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị để đảm bảo chỉ số đông máu ổn định [6].
Củ nghệ nói chung và nghệ xanh nói riêng là nguồn dược liệu quý với nhiều giá trị cho sức khỏe. Dẫu vậy, hiệu quả và độ an toàn của nó phụ thuộc rất lớn vào cơ địa, bệnh nền và liều lượng sử dụng. Để bảo vệ bản thân, người có bệnh lý nền cần luôn trao đổi với bác sĩ trước khi đưa thảo dược này vào chế độ sinh hoạt hàng ngày.

