Rau răm (danh pháp khoa học: Polygonum odoratum hoặc Persicaria odorata) là loại rau thơm xuất hiện phổ biến trong nhiều bữa ăn của người Việt [1]. Từ món trứng vịt lộn, gỏi gà đến các món bún, canh chua, rau răm đem lại mùi thơm cay ấm kích thích vị giác [1]. Tuy nhiên, nhiều người vẫn băn khoăn: Liệu ăn nhiều rau răm có gây tác dụng phụ cho cơ thể hay không?
Theo dữ liệu y sinh học hiện đại, rau răm chứa các hợp chất dễ bay hơi và chất hoạt tính tạo vị cay nồng [1]. Dù mang lại lợi ích chống viêm và chống oxy hóa trong các thử nghiệm tiền lâm sàng, việc dùng quá mức thảo dược này tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với người có thể trạng đặc thù hoặc đang chuẩn bị can thiệp ngoại khoa [1, 4].
Rau răm chứa những hợp chất sinh học nào?
Rau răm thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), là loại thảo mộc chứa hàm lượng cao các hợp chất aldehyde hữu cơ dễ bay hơi [1]. Các phân tích hóa thực vật chỉ ra rằng phần thân trên mặt đất của rau răm chứa các chất như (Z)-3-hexenal, (Z)-3-hexenol, decanal, undecanal và dodecanal, tạo nên mùi hương cỏ xanh pha lẫn vỏ cam quýt đặc trưng [1].
Đáng chú ý, các nhà khoa học đã phân lập được hai hợp chất lưu huỳnh gồm 3-sulfanyl-hexanal và 3-sulfanyl-hexan-1-ol [1]. Hoạt chất tạo nên vị cay the nồng rõ nét khi nhai lá tươi được xác định chính là polygodial – một dẫn xuất 1,4-dialdehyde từ terpenoid drimane [1]. Polygodial cũng chính là hợp chất tạo vị cay the gắt trong loài tiêu nước [1]. Ngoài ra, rau răm còn chứa nhóm hợp chất polyphenol và flavonoid với hoạt tính sinh học cao [1, 4, 8].
Cơ chế tác động sinh học của chiết xuất rau răm
Ở cấp độ phân tử và tế bào, rau răm thể hiện khả năng tác động mạnh mẽ lên hệ thống cytokine và phản ứng viêm [1, 4]. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy chiết xuất lá rau răm tác động đến sự sản sinh của các chất trung gian gây viêm do đại thực bào tiết ra khi bị kích thích [1, 4].
Thảo dược này chứa các dẫn xuất glucoside có thể tương tác với hệ vi sinh đường ruột [2]. Quá trình thủy phân khử gốc đường (deglycosylation) do vi khuẩn đường ruột thực hiện có thể làm thay đổi và khuếch đại hoạt tính sinh học của các phân tử này bên trong cơ thể [2]. Đồng thời, chiết xuất rau răm còn ức chế các enzyme và protein liên quan đến chu trình phân chia tế bào và phản ứng viêm, ví dụ như cyclooxygenase 2 (COX-2) [3].
Bằng chứng khoa học: Chiết xuất rau răm trong thử nghiệm
Các nghiên cứu công bố về cây rau răm (Polygonum odoratum) tập trung khảo sát hoạt tính dược lý trên mô hình tế bào và động vật gặm nhấm:
Khảo sát hoạt tính chống viêm trên đại thực bào (Nghiên cứu năm 2016): Các nhà khoa học đã thử nghiệm chiết xuất ethanol từ phần trên mặt đất của rau răm trên tế bào đại thực bào bị kích thích bởi lipopolysaccharide [2]. Kết quả cho thấy chiết xuất ethanol làm giảm đáng kể sự tiết cytokine tiền viêm interleukin-6 (IL-6) với nồng độ ức chế 50% (IC50) là 25 pg/mL [2]. Hai phân đoạn chính được phân lập bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao và cộng hưởng từ hạt nhân là scutellarein-7-glucoside và quercitrin [2]. Hai chất này ức chế sản sinh IL-6 với IC50 lần lượt là 102 µM và 77 µM [2]. Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng của các glycoside này nhưng lưu ý cần xem xét tương tác cùng hệ vi sinh đường ruột [2].
Khảo sát trên đại thực bào RAW 264.7 (Nghiên cứu năm 2019): Chiết xuất từ lá và thân rau răm qua các dung môi methanol, dichloromethane và nước được đem định lượng polyphenol và đo hoạt tính [4]. Chiết xuất lá bằng dichloromethane (DLE) ức chế sản sinh oxit nitric (NO) phụ thuộc vào nồng độ, đạt IC50 là 53,75 ± 0,72 microgam/mL [4]. Chiết xuất methanol (MLE) có khả năng dọn gốc tự do DPPH, ABTS, chứa lượng phenolic cao nhất (52,59 ± 0,58 mg đương lượng gallic acid/g) và flavonoid (19,97 ± 0,11 mg đương lượng quercetin/g) [4]. E-15-Heptadecenal và 3, 7, 11, 15-tetramethyl-2-hexadecen-1-ol là hai chất chính được tìm thấy [4].
Nghiên cứu phối hợp dịch chiết trên chuột cắt buồng trứng (Nghiên cứu năm 2014): Nghiên cứu tiến hành đánh giá tác động chống loãng xương của dịch chiết kết hợp giữa lá dâu tằm (Morus alba) và lá rau răm (Polygonum odoratum) [5]. Chuột cống trắng đã bị cắt bỏ buồng trứng (trọng lượng 200-220 g) được cho uống dịch chiết kết hợp ở ba mức liều 5, 150 và 300 mg/kg thể trọng liên tục trong 3 tháng [5]. Kết quả ghi nhận dịch chiết làm giảm stress oxy hóa ở xương và giảm mật độ tế bào hủy xương (osteoclast), đồng thời làm tăng mật độ tạo cốt bào (osteoblast) và độ dày vỏ xương chày [5]. Mức canxi, phosphatase kiềm và osteocalcin trong huyết thanh chuột cũng tăng lên [5]. Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng dạng phối hợp hai loại thảo dược trên động vật, đồng thời nhóm nghiên cứu nhấn mạnh cần thêm các khảo sát độc tính mãn tính [5].
Tổng quan hệ thống về tác động trên dòng tế bào ung thư (Nghiên cứu năm 2022): Một bài tổng quan hệ thống thu thập 8 nghiên cứu đạt tiêu chuẩn, chỉ ra chiết xuất rau răm tác động ức chế tế bào ung thư biểu mô, ung thư máu trên ống nghiệm thông qua việc ức chế các protein điều hòa chu kỳ tế bào và tăng sinh mạch như COX-2, MMP-9 [3]. Toàn bộ dữ liệu này mới dừng lại ở quy mô tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm [3].
Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện nay
Đa số nghiên cứu về rau răm hiện nay đều là thử nghiệm trong phòng thí nghiệm (in vitro) hoặc trên động vật gặm nhấm [1, 2, 4, 8]. Hiện tại chưa có các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên cơ thể người khỏe mạnh hay bệnh nhân đối với các tình trạng bệnh lý chuyên biệt.
Đặc biệt, không có nghiên cứu trực tiếp nào xác lập ngưỡng ăn bao nhiêu gam lá rau răm tươi mỗi ngày thì gây độc cấp tính ở người. Dữ liệu khảo sát độc tính của chiết xuất rau răm còn hạn chế và cần được làm rõ thêm ở quy mô mạn tính [5]. Cần lưu ý không nhầm lẫn rau răm (Polygonum odoratum) với các cây cùng chi khác như Hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum - loài chứa glycoside stilbene có nguy cơ gây tổn thương gan trên động vật) hay nghể đầu (Polygonum capitatum - loài làm giảm thải trừ kháng sinh levofloxacin ở chuột) hoặc loài Hoàng tinh (Polygonatum odoratum - thuộc chi khác) [5, 6, 7].
Hiểu lầm thường gặp về việc dùng rau răm
Nhiều người lầm tưởng rau răm hoàn toàn lành tính vì chỉ là rau gia vị ăn kèm hàng ngày. Thực tế, rau răm chứa hợp chất polygodial có tính kích thích niêm mạc rất mạnh [1]. Việc ăn một lượng lớn lá tươi khi đói có thể gây cảm giác nóng rát, cồn cào niêm mạc dạ dày [1].
Một hiểu lầm khác là cho rằng rau răm có thể điều trị dứt điểm các bệnh viêm mạn tính hoặc thay thế thuốc chống loãng xương. Các nghiên cứu hiện tại mới chỉ ra chiết xuất từ cây có hoạt tính giảm phóng thích cytokine viêm IL-6 hoặc NO trong tế bào nuôi cấy, không đồng nghĩa việc ăn rau răm là bài thuốc chữa khỏi bệnh trên người [1, 4].
4 nhóm đối tượng cần cẩn trọng khi ăn rau răm
Dựa trên thành phần hóa học, vị cay nồng của polygodial và các cơ chế can thiệp enzyme, 4 nhóm sau cần đặc biệt lưu ý [3, 8]:
Người có cơ địa thể hàn, tiêu hóa yếu: Rau răm chứa lượng lớn aldehyde bay hơi và hoạt chất cay nồng polygodial tác động kích ứng dạ dày [1]. Những người hay lạnh bụng, dễ tiêu chảy, viêm loét đường tiêu hóa nếu ăn quá nhiều rau răm sống có thể gặp phản ứng kích thích tạng phủ, làm trầm trọng thêm cảm giác đầy tức hoặc khó chịu đường ruột. Dù y học cổ truyền từng dùng rau răm giải quyết đầy hơi, việc nạp lượng lớn hợp chất kích thích không phù hợp cho niêm mạc suy yếu [4].
Phụ nữ đang trong chu kỳ kinh nguyệt ra nhiều (rong kinh): Các hợp chất nhóm polyphenol và flavonoid trong rau răm có hoạt tính sinh học tác động lên chuyển hóa tế bào và hệ mạch qua cơ chế ức chế cyclooxygenase 2 (COX-2) [4, 8]. Thêm vào đó, đặc tính cay nóng làm tăng lưu thông huyết dịch cục bộ [1]. Việc dùng nhiều thảo dược có tính chất kích thích mạnh trong thời điểm kinh nguyệt có thể làm nặng thêm tình trạng xuất huyết hoặc khó cầm máu. Phụ nữ gặp chứng rong kinh kéo dài cần hạn chế tiêu thụ lượng lớn.
Người chuẩn bị phẫu thuật hoặc can thiệp nha khoa: Các hoạt chất trong rau răm tác động ức chế enzyme COX-2 và quá trình viêm mạch [3]. Tác động ức chế này có thể ảnh hưởng đến dòng thác đông máu và chức năng tiểu cầu tương tự một số hợp chất chống viêm không steroid nhẹ. Người có lịch phẫu thuật hoặc tiểu phẫu ngoại khoa nên ngừng ăn nhiều rau răm tươi trước thủ thuật ít nhất 1-2 tuần để giảm thiểu rủi ro chảy máu khó kiểm soát.
Người đang dùng thuốc chuyển hóa hoặc có bệnh lý mạn tính: Mặc dù nghiên cứu tương tác thuốc mới được xác nhận rõ ở cây cùng chi nghể (Polygonum capitatum làm giảm tích lũy bài tiết levofloxacin qua nước tiểu và phân ở chuột), các hợp chất glycoside trong rau răm (Polygonum odoratum) cũng trải qua quá trình phân giải sâu rộng bởi vi sinh đường ruột [1, 6]. Sự can thiệp này có thể làm thay đổi tính hấp thu hoặc cạnh tranh enzym gan ruột nếu dùng đồng thời lượng lớn thảo dược với các dược phẩm điều trị bệnh mãn tính [2].
Hướng dẫn ăn rau răm an toàn và hợp lý
Để thưởng thức rau răm vừa ngon miệng vừa an toàn cho sức khỏe, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc sau:
Lượng dùng hợp lý: Chỉ nên dùng rau răm đúng với vai trò là rau gia vị. Mỗi bữa chỉ nên ăn vài ngọn hoặc từ 5-10 lá tươi kèm các món đạm nguội, tanh để tăng hương vị và hỗ trợ tiêu hóa. Tránh thói quen xay ép rau răm tươi lấy nước uống với lượng lớn.
Thời điểm và cách chế biến: Nên ăn rau răm kèm thức ăn đã nấu chín, có đủ chất béo và chất đạm, ví dụ như cháo, canh chua, gỏi cá. Không ăn rau răm tươi khi bụng hoàn toàn trống rỗng để tránh hợp chất cay polygodial làm tổn thương niêm mạc dạ dày [1].
Lưu ý y tế: Phụ nữ mang thai, người đang chuẩn bị phẫu thuật hoặc bệnh nhân đang điều trị thuốc chống đông máu, thuốc kháng sinh cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ dạng nước cốt hay chiết xuất đậm đặc nào từ thảo dược họ Polygonum [6, 8].
Rau răm là gia vị ẩm thực độc đáo với tiềm năng chống viêm và chống oxy hóa đáng chú ý [1, 4]. Tuy nhiên, thảo dược này chỉ phát huy lợi ích khi được sử dụng có chừng mực trong bữa ăn hằng ngày. Người có thể trạng lạnh bụng, rối loạn đông máu, rong kinh hoặc sắp bước vào ca phẫu thuật cần lắng nghe cơ thể, điều chỉnh lượng dùng phù hợp và chủ động hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa khi cần thiết.


