Tang phiêu tiêu (tổ bọ ngựa bao bọc quanh trứng trên cây dâu tằm) là vị thuốc cổ truyền quen thuộc, thường được dùng để bổ thận, cố tinh, giảm tiểu đêm hay đái dầm. Nhiều người coi đây là thảo dược lành tính nên tự ý tìm mua sử dụng khi gặp các rắc rối về đường tiết niệu. Tuy nhiên, việc dùng sai thể bệnh có thể gây phản tác dụng và dẫn tới nhiều biến chứng nghiêm trọng cho sức khỏe.

Các bác sĩ cảnh báo rằng những người đang có biểu hiện thấp nhiệt, tiểu rắt, tiểu buốt hoặc sốt cao tuyệt đối không được tự ý dùng tang phiêu tiêu. Khi chưa có chẩn đoán phân biệt rõ ràng giữa thể hư hàn và thực nhiệt, việc nạp một vị thuốc mang tính cố sáp vào người có thể làm bệnh trầm trọng hơn.

Bản chất của tang phiêu tiêu và cơ chế gây phản tác dụng

Tang phiêu tiêu bản chất là tổ trứng của các loài bọ ngựa sống ký sinh trên cành cây [1]. Trong y học cổ truyền, vị thuốc này có tính thu liễm, cố sáp (giữ lại, ngăn rò rỉ), thường dùng để chữa chứng tiểu tiện mất kiểm soát do bàng quang hoặc thận dương suy yếu.

Cơ chế điều trị của tang phiêu tiêu dựa vào việc giữ nước và làm ấm đường tiểu. Tuy nhiên, nếu một người bị tiểu rắt do viêm nhiễm tiết niệu, vi khuẩn hoặc thấp nhiệt ứ trệ, đường tiểu đang cần được thanh nhiệt giải độc và đào thải ra ngoài. Dùng vị thuốc thu liễm lúc này sẽ "giữ" lại độc tố, ức chế quá trình bài xuất, khiến nhiệt độc tích tụ và làm trầm trọng thêm tình trạng viêm.

Đối với người đang sốt cao hoặc nhiễm trùng cấp, tà khí đang hoành hành bên trong cơ thể. Thuốc mang tính cố sáp như tang phiêu tiêu sẽ "khóa" tà khí lại bên trong, ngăn cản cơ chế tự giải nhiệt và bài tiết mồ hôi của cơ thể, đẩy người bệnh vào tình trạng nguy kịch hơn.

Nghiên cứu chỉ ra nguy cơ từ thị trường dược liệu không chuẩn hóa

Bên cạnh nguy cơ dùng sai thể bệnh, các nghiên cứu sinh học phân tử hiện đại còn chỉ ra rủi ro rất lớn về độ an toàn và nguồn gốc xuất xứ của tang phiêu tiêu thương phẩm trên thị trường.

Một nghiên cứu công bố năm 2013 kết hợp ấp nở nhân tạo và bắt bọ ngựa sống đã chứng minh nguồn gốc bọ ngựa tạo ra tang phiêu tiêu gồm các chi Tenodera, Hierodula và Statilia [2]. Nghiên cứu này khẳng định việc xác định đúng loài là cơ sở cốt lõi bảo đảm chất lượng thuốc [2].

Tiếp đó, một nghiên cứu năm 2015 sử dụng kỹ thuật mã vạch DNA để phân tích khoảng cách di truyền và giải trình tự gen COI [3]. Dược điển Trung Quốc chỉ quy định tổ của 3 loài bọ ngựa làm thuốc, nhưng thực tế thị trường lại trôi nổi tổ của rất nhiều loài bọ ngựa khác nhau [3]. Các nhà nghiên cứu cảnh báo việc sử dụng lâm sàng tang phiêu tiêu không rõ loài ghi nhận trong dược điển tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người bệnh [3]. Nghiên cứu cũng xác nhận Tenodera sinensis và Hierodula patellifera lần lượt là nguồn gốc của Đoàn phiêu tiêu và Hắc phiêu tiêu, còn Statilia maculata và Mantis religiosa là nguồn gốc của Trường phiêu tiêu [3].

Năm 2020, một nghiên cứu hình thái kết hợp mã vạch DNA phân tích các mẫu Tenodera angustipennis, Tenodera sinensis, Hierodula patellifera và Hierodula sp. [4]. Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng hình thái tổ trứng có nhiều đặc điểm chẩn đoán quan trọng như khu vực thoát trứng, đường viền, góc đầu xa, độ rộng lớp xốp chứa khí và trọng lượng [4]. Việc nhầm lẫn do thiếu thông tin nhận diện hình thái là rủi ro hiện hữu của dược liệu này [4].

Gần đây nhất, nghiên cứu năm 2022 đã thu thập tới 4.580 mẫu tang phiêu tiêu từ 18 nguồn cung ứng khác nhau trên thị trường và sử dụng công nghệ DNA metabarcoding [1]. Kết quả phát hiện 37 biến thể trình tự (ASV) và 9 đơn vị phân loại phân tử (MOTU) của bọ ngựa [1]. Đáng chú ý, dược liệu bán trên thị trường phụ thuộc chủ yếu vào thu hái tự nhiên, dễ bị sâu mọt kho tàng xâm nhập và lẫn các loài chưa được dược điển công nhận như Tenodera angustipennis [1]. Sự xáo trộn nguồn gốc và tạp nhiễm này đặt ra mối đe dọa trực tiếp đến tính an toàn khi dùng cho người bệnh [1].

Những hiểu lầm tai hại khi chữa bệnh đường tiểu

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng mọi triệu chứng rối loạn tiểu tiện. Rất nhiều người thấy mình hay đi tiểu thì tự chẩn đoán là "yếu thận" rồi mua tang phiêu tiêu về sắc uống.

Trên thực tế, tiểu nhiều do bàng quang lạnh, cơ thắt suy yếu (hư hàn) khác hoàn toàn với chứng tiểu rắt, tiểu buốt do nhiễm khuẩn đường tiết niệu (thấp nhiệt). Nếu gặp phải viêm bàng quang cấp, viêm niệu đạo mà uống tang phiêu tiêu, tình trạng buốt rát sẽ tăng lên nhanh chóng, thậm chí dẫn đến bí tiểu cấp tính.

Một sai lầm khác là tin rằng "thuốc từ thiên nhiên hoàn toàn vô hại". Như các dữ liệu kiểm nghiệm đã chỉ ra, tang phiêu tiêu bán tự do rất dễ bị sâu bọ làm hỏng, nhiễm khuẩn kho bảo quản hoặc thu hái từ loài bọ ngựa không đúng chuẩn [2, 5]. Uống phải dược liệu tạp nhiễm có thể gây ngộ độc hoặc dị ứng đường tiêu hóa.

Nhóm người tuyệt đối nên thận trọng và tránh dùng

  • Người mắc chứng thấp nhiệt bàng quang: Có biểu hiện đi tiểu nhiều lần nhưng lượng ít, tiểu rắt, tiểu buốt, cảm giác nóng rát đường niệu, nước tiểu đục hoặc có màu vàng đậm.

  • Người đang sốt cao hoặc nhiễm trùng cấp: Cơ thể đang cần thải độc và thoát nhiệt; dùng thuốc thu liễm như tang phiêu tiêu sẽ làm bế tắc nhiệt độc.

  • Người bị táo bón, khô họng, khát nước do nhiệt thịnh: Tính ấm và sáp của vị thuốc này có thể làm mất tân dịch và khiến tình trạng táo bón nặng thêm.

  • Phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ: Chưa có đủ bằng chứng lâm sàng về độ an toàn của tang phiêu tiêu trên các đối tượng này, tuyệt đối không tự ý dùng khi chưa có chỉ định của thầy thuốc.

Lời khuyên và cách áp dụng an toàn trong đời sống

Người tiêu dùng không nên tự ý mua tang phiêu tiêu tại các khu chợ dược liệu trôi nổi để tự sắc uống tại nhà. Do đặc tính dễ bị sâu mọt và nhầm lẫn loài, việc tự sơ chế từ nguồn không rõ nguồn gốc tiềm ẩn nhiều nguy cơ nhiễm tạp chất [1].

Nếu gặp các triệu chứng bất thường về tiểu tiện hoặc sinh lý, việc đầu tiên cần làm là đến cơ sở y tế chuyên khoa để xét nghiệm nước tiểu, siêu âm và tìm nguyên nhân bệnh học. Trường hợp được bác sĩ y học cổ truyền chỉ định dùng tang phiêu tiêu, thuốc thường sẽ được phối ngũ với nhiều vị thảo dược khác để cân bằng tính vị, đồng thời phải trải qua quy trình sao tẩm chuyên nghiệp để loại trừ mầm bệnh.

Tang phiêu tiêu là vị thuốc có công dụng cố định và khu biệt trong y học cổ truyền. Việc sử dụng cần dựa trên sự chẩn đoán chuẩn xác về thể bệnh, tránh tâm lý bổ thận mù quáng dẫn đến phản tác dụng cho hệ tiết niệu.