Quả lồng đèn (tầm bóp, cape gooseberry) dần phổ biến nhờ vị chua ngọt và nhiều dưỡng chất. Trái cây dại quen thuộc này xuất hiện nhiều ở vườn quê, ven đường và các siêu thị. Nhiều người hái quả chưa chín vàng hoặc còn xanh để ăn giải khát.
Thói quen ăn quả lồng đèn còn xanh tiềm ẩn nguy cơ cho đường tiêu hóa. Cây lồng đèn thuộc họ Cà (Solanaceae), nhóm thực vật chứa hợp chất bảo vệ tự nhiên solanine [1]. Khi quả chưa chín, lượng độc tố này tích tụ cao, dễ gây rối loạn tiêu hóa và đau quặn bụng.
Cơ chế tác động của độc chất họ Cà
Cây họ Cà (Solanaceae) tự tạo độc tố tự nhiên để chống sâu bệnh hại mùa màng [1, 7]. Hợp chất alkaloid điển hình là solanine thường phân bố tại phần xanh của cây như lá, thân, đài hoa và vỏ quả chưa chín.
Đưa solanine chưa chuyển hóa vào cơ thể gây kích ứng niêm mạc dạ dày và ruột. Chất này ức chế enzyme cholinesterase, gây tăng co bóp cơ trơn tiêu hóa. Người ăn phải lượng độc chất lớn đối mặt tình trạng nôn mửa, tiêu chảy, chuột rút bụng.
Khi quả lồng đèn chín hoàn toàn (vỏ chuyển vàng hoặc cam), hàm lượng độc tố suy giảm mạnh, nhường chỗ cho đường và axit hữu cơ lành tính. Ăn quả lúc còn xanh cứng đưa lượng độc chất cao vào ruột non, khởi phát triệu chứng trúng độc cấp.
Nghiên cứu khoa học về độc tính và hoạt tính của lồng đèn
Khoa học ghi nhận nhiều thử nghiệm độc học và dược lý trên loài Physalis peruviana L. thuộc họ Solanaceae [1, 7]. Dữ liệu cho thấy sự khác biệt rõ giữa chiết xuất chuẩn hóa, liều lượng sử dụng và các thành phần từ cây.
Một nghiên cứu độc học công bố năm 2013 thử nghiệm nước ép quả lồng đèn đông khô (Physalis peruviana L.) trên chuột nhắt [1]. Nước ép quả không gây biến đổi cấu trúc gen trong thử nghiệm ống nghiệm [1]. Giá trị độc tính cấp (LD50) đường uống đạt mức trên 5.000 mg/kg trọng lượng ở cả hai giới [1]. Thử nghiệm bán mạn tính không thấy độc tính trên gan, thận và máu [1]. Nhóm chuột đực dùng mức liều cao 5.000 mg/kg xuất hiện tăng men troponin I, troponin T và kali huyết tương, dấu hiệu tổn thương cơ tim [1]. Độc tính cơ tim chỉ xuất hiện ở chuột đực tại liều rất cao [1].
Nghiên cứu năm 2017 đánh giá độ an toàn của este sucrose (peruviose A và B) tách từ đài hoa lồng đèn (Physalis peruviana L.) [2]. Thử nghiệm dùng chuột đực và cái CD-1(ICR) tiêm phúc mạc liều 2,5; 5 và 10 mg/kg/ngày trong 28 ngày liên tục [2]. Kết quả không ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê về triệu chứng lâm sàng, khối lượng tạng, xét nghiệm máu, mô học tế bào [2]. Thử nghiệm micronucleus, comet assay và Ames test đều không thấy độc tính di truyền từ hoạt chất này [2].
Năm 2007, thử nghiệm trên chuột cống trắng bị tổn thương gan cấp do carbon tetrachloride (CCl4) cho thấy các chiết xuất từ Physalis peruviana thể hiện hoạt tính bảo vệ gan [3]. Chiết xuất nước, ethanol và hexane liều 500 mg/kg làm giảm tổn thương mô gan, giảm chỉ số men huyết thanh [3]. Chiết xuất nước có hoạt tính ở liều thấp 125 mg/kg [3]. Phân tích thô cho thấy chiết xuất nước không gây độc tính cấp rõ rệt trên chuột cống [3].
Nghiên cứu năm 2015 trên 60 chuột cống đực chia 4 nhóm thử nghiệm hiệu quả bảo vệ trước nitrosamine ketone từ thuốc lá (NNK) [4]. Chuột nhận liều độc NNK kèm một liều Physalis peruviana L. hàng ngày biểu hiện giảm tăng sinh phế nang, giảm biểu hiện kháng nguyên Ki-67 và protein p53, hỗ trợ giảm tổn thương ADN phổi [4].
Nghiên cứu năm 2014 trên 28 chuột cống Wistar albino bị tổn hại tinh hoàn do cadmium (Cd) chia 4 nhóm [5]. Chuột uống cao chiết cồn 200 mg/kg trước khi tiêm cadmium giảm nồng độ malondialdehyde, giảm biểu hiện caspase-3, đồng thời nâng mức testosterone và enzyme chống oxy hóa trong mô tinh hoàn [5].
Năm 2021, thử nghiệm trên rễ hành tây (Allium cepa L.) kéo dài 72 giờ ghi nhận độc tính của bột ngọt (MSG 1.000 mg/L) và vai trò của chiết xuất lồng đèn ở mức 125 mg/L và 250 mg/L [6]. Chiết xuất lồng đèn cải thiện chiều dài rễ, tỷ lệ nảy mầm, giảm bất thường nhiễm sắc thể và giảm chỉ số oxy hóa malondialdehyde (MDA) do bột ngọt gây ra [6].
Lợi ích dinh dưỡng khi dùng quả chín
Khi quả lồng đèn chuyển sang trạng thái chín kỹ, các hợp chất độc tính chuyển hóa dần. Trái cây chín trở thành nguồn cung cấp vi chất giá trị cho cơ thể [7].
Nghiên cứu năm 2016 xác định quả lồng đèn chứa nhiều khoáng chất thiết yếu [7]. Thử nghiệm mô phỏng tiêu hóa in vitro (pepsin dạ dày và pancreatin ruột) cho thấy độ giải phóng sinh học của đồng và selen đạt trên 90% ngay từ giai đoạn dạ dày [7]. Khoáng chất coban đạt mức giải phóng tốt sau cả hai giai đoạn tiêu hóa dạ dày và ruột non [7].
Các hợp chất hữu cơ trong quả hỗ trợ duy trì hoạt động chống oxy hóa, kích thích tổng hợp glutathione nội sinh khi cơ thể đối mặt các gốc tự do [1, 2, 5].
Hiểu lầm thường gặp về quả lồng đèn
Nhiều người lầm tưởng thảo dược tự nhiên ăn sống phần nào cũng an toàn. Một khảo sát thực vật ghi nhận khoảng 70-80% dân số thế giới từng dựa vào cây cỏ để chăm sóc sức khỏe [1]. Việc sử dụng thảo mộc chưa xác định ngưỡng an toàn và thành phần độc tính tiềm ẩn rủi ro sức khỏe nặng nề [1].
Ăn quả còn vị chát, xanh ngắt dễ gây hiểu nhầm là vị giòn thanh. Cảm giác đắng, tê lưỡi sau cắn quả lồng đèn sống báo hiệu sự hiện diện của solanine. Nhầm lẫn tai hại khác là cho rằng ăn quả sống thải độc ruột tốt hơn quả chín; thực tế độc chất kích thích niêm mạc gây đau co thắt ruột.
Nhiều người nghĩ ăn thật nhiều quả lồng đèn sẽ bổ tim và gan. Bằng chứng độc học trên chuột đực cảnh báo việc dùng nước ép liều cực cao (5.000 mg/kg) làm tăng enzym troponin huyết thanh và kali máu, cảnh báo tổn thương cơ tim [1].
Những ai cần thận trọng khi sử dụng?
Hầu hết bằng chứng độc tính và bảo vệ nội tạng hiện có chỉ thực hiện trên động vật gặm nhấm (chuột cống, chuột nhắt) hoặc mô hình thực vật [1, 2, 3, 5, 6, 7]. Chưa có nghiên cứu lâm sàng hoàn chỉnh trên phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ nhỏ.
Phụ nữ mang thai không ăn quả lồng đèn xanh hoặc dùng chiết xuất cây chưa qua kiểm duyệt y tế. Trẻ em có hệ tiêu hóa non nớt, dễ đau bụng và mất nước nếu nhiễm độc tính solanine từ quả sống.
Người có bệnh lý tim mạch, suy giảm chức năng thận cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng chế phẩm cô đặc từ lồng đèn. Liều cao nước ép đông khô gây biến đổi kali huyết và tổn thương cơ tim trên thực nghiệm động vật [1]. Người đang điều trị bệnh gan, thận mạn tính không tự ý dùng bài thuốc lồng đèn dân gian thay thuốc chữa bệnh [1, 7].
Áp dụng thực tế an toàn trong đời sống
Chọn quả lồng đèn đã chín vàng ươm, lớp vỏ đài bao ngoài khô héo hoặc rụng tự nhiên. Tránh thu hái hay mua các quả còn sắc xanh lá, bề mặt cứng ngắc, vị chát đắng.
Loại bỏ phần đài hoa bao quanh quả trước khi ăn sống. Rửa sạch quả dưới vòi nước chảy để cuốn trôi tạp chất bám ngoài vỏ.
Ăn với lượng vừa phải như trái cây tráng miệng thông thường. Có thể chế biến quả chín thành mứt, sấy dẻo hoặc ép lấy nước dùng cùng các món sinh tố. Người mắc bệnh nền hoặc muốn dùng dịch chiết lồng đèn liều cao cần tham khảo ý kiến bác sĩ.
Trái lồng đèn chín là nguồn dinh dưỡng tự nhiên tốt cho sức khỏe nếu dùng đúng cách. Tránh ăn quả còn xanh để phòng ngừa nguy cơ nhiễm độc solanine, bảo vệ dạ dày và hệ tiêu hóa trọn vẹn.



