Cảm cúm và cảm lạnh thông thường là những vấn đề đường hô hấp xảy ra quanh năm, gây nghẹt mũi, ho, đau họng và mệt mỏi kéo dài [1]. Nhiều người truyền tai nhau uống ngay viên ngậm hoặc viên uống bổ sung kẽm ngay khi thấy cổ họng ngứa rát hay hắt hơi [1]. Liệu biện pháp can thiệp sớm này có thực sự giúp khỏi ốm nhanh hơn như lời đồn?

Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên xác nhận việc dùng kẽm ngay trong 24 giờ đầu có thể rút ngắn thời gian mắc bệnh từ 1 ngày cho đến hơn 40% [2] [3] [4]. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế phụ thuộc rất lớn vào liều lượng bổ sung mỗi ngày, dạng muối kẽm và người dùng phải đối mặt với nguy cơ buồn nôn khá cao [3] [5] [6].

Cơ chế tác động của vi chất kẽm khi virus xâm nhập

Cảm lạnh thông thường là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp do virus gây ra, biểu hiện qua các triệu chứng như nghẹt mũi, chảy dịch mũi, hắt hơi, đau rát họng, ho và mệt mỏi toàn thân [1]. Tình trạng này tự giới hạn nhưng gây ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động và học tập [1]. Cơ thể cần hệ miễn dịch hoạt động tối ưu để ngăn chặn các tác nhân gây bệnh lây lan [2].

Cung cấp đủ kẽm có mối liên hệ mật thiết với việc giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và củng cố hàng rào miễn dịch kháng virus của cơ thể [2]. Trong các nghiên cứu tế bào trong ống nghiệm với chủng coronavirus, sự kết hợp giữa ion kẽm tự do (Zn2+) và chất vận chuyển ion kẽm (pyrithione) đã chứng minh khả năng làm gián đoạn cơ chế nhân lên của virus ARN [2]. Dù vậy, các bằng chứng lâm sàng hiện diện rõ ràng nhất là khi dùng kẽm dạng ngậm để ion kẽm giải phóng trực tiếp trong khoang miệng ở độ pH 7,4 [3].

Nếu các chế phẩm ngậm chứa các chất kết dính như axit citric, glycine hoặc tartrate, ion kẽm sẽ bị giữ lại (chelate hóa), làm mất khả năng giải phóng ion tự do và làm giảm tác dụng kháng virus tại chỗ [3] [7]. Do đó, cấu trúc hóa học và cách bào chế quyết định rất lớn tới hiệu quả sinh học của kẽm khi vào cơ thể [3] [7].

Bằng chứng lâm sàng: Rút ngắn thời gian bệnh bao lâu?

Hệ thống y khoa đã thực hiện nhiều tổng quan hệ thống và phân tích gộp lớn để đánh giá chính xác tác dụng của vi chất này trên người mắc cảm lạnh tự nhiên [1] [4] [5]. Dữ liệu cho thấy nếu được can thiệp kịp thời, kẽm mang lại lợi ích rõ rệt [2] [3].

Một phân tích gộp năm 2013 dựa trên 16 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng giả dược với 1.387 người tham gia điều trị trong ít nhất 5 ngày liên tiếp [4]. Kết quả ghi nhận việc bổ sung kẽm giúp giảm thời gian mắc cảm lạnh trung bình 1,03 ngày (khoảng tin cậy 95%: -1,72 đến -0,34 ngày; P = 0,003) [4]. Tỷ lệ bệnh nhân vẫn còn triệu chứng sau 7 ngày điều trị ở nhóm dùng kẽm cũng giảm đáng kể so với nhóm giả dược (tỷ số chênh OR = 0,45; P = 0,05) [4]. Tuy nhiên, phân tích này cho thấy kẽm không làm giảm đáng kể độ nghiêm trọng tổng thể của các triệu chứng cảm thông thường (P = 0,11) [4].

Một báo cáo phân tích gộp khác tổng hợp 13 thử nghiệm điều trị (966 người) và 2 thử nghiệm dự phòng (394 người) đối chứng giả dược mù đôi [3] [6]. Kết quả cho thấy can thiệp bằng kẽm trong 24 giờ đầu kể từ lúc khởi phát triệu chứng giúp giảm cả thời gian và độ nặng của bệnh [3] [6]. Ngoài ra, việc dùng dự phòng ít nhất 5 tháng giúp giảm tỷ lệ mắc cảm lạnh mới (IRR = 0,64), giảm số ngày nghỉ học và giảm tỷ lệ phải kê đơn kháng sinh [6].

Nghiên cứu sơ bộ trên 94 bệnh nhân mắc cảm lạnh đánh giá dạng kết hợp giữa 1.000 mg vitamin C và 10 mg kẽm cho thấy nhóm can thiệp giảm thời gian chảy nước mũi hiệu quả hơn giả dược trong 5 ngày điều trị và giúp cải thiện triệu chứng nhanh hơn [8].

Liều lượng và dạng muối kẽm: Không phải loại nào cũng giống nhau

Hiệu quả rút ngắn bệnh không tự nhiên xuất hiện ở mọi liều lượng bổ sung [5]. Nhiều người dùng liều quá thấp thường không nhận được kết quả như kỳ vọng [3] [5].

Một tổng quan hệ thống năm 2011 trên 13 thử nghiệm đối chứng giả dược dùng kẽm ngậm điều trị các đợt cảm lạnh tự nhiên đã chỉ ra sự khác biệt lớn theo liều [5]. Có 5 thử nghiệm sử dụng tổng liều kẽm nguyên tố dưới 75 mg/ngày và tất cả các nghiên cứu này đều ghi nhận không có bất kỳ hiệu quả lâm sàng nào [3] [5]. Ngược lại, lợi ích chỉ xuất hiện rõ nét ở các thử nghiệm dùng liều cao trên 75 mg kẽm nguyên tố mỗi ngày [3] [5].

Dạng muối kẽm cũng đóng vai trò quyết định mức độ đáp ứng [3] [5]:

  • Nhóm dùng muối kẽm acetate với liều trên 75 mg/ngày (tổng hợp từ 3 thử nghiệm) giúp giảm tới 42% thời gian mắc bệnh cảm lạnh (khoảng tin cậy 95%: 35% đến 48%) [3] [5].
  • Nhóm dùng các dạng muối kẽm khác (như kẽm gluconate) với liều trên 75 mg/ngày (tổng hợp từ 5 thử nghiệm) ghi nhận mức giảm 20% thời gian mắc cảm lạnh (khoảng tin cậy 95%: 12% đến 28%) [3] [5].

Như vậy, muối kẽm acetate liều cao cho thấy mức độ rút ngắn thời gian bị ốm vượt trội hơn so với các muối kẽm thông thường khác [3] [5]. Dù vậy, viên ngậm kẽm gluconate với liều lượng nguyên tố phù hợp vẫn đem lại hiệu quả nếu không chứa các phụ gia làm giảm ion tự do [7].

Tác dụng phụ thường gặp và nguy cơ buồn nôn

Dù đem lại lợi ích trong việc phục hồi sức khỏe, việc bổ sung kẽm liều cao trong thời gian ngắn không hoàn toàn êm dịu với hệ tiêu hóa [7] [6]. Người dùng cần nhận biết trước các tác dụng ngoại ý để không hoang mang [1].

Theo phân tích tổng hợp từ Cochrane năm 2011, nhóm bệnh nhân dùng kẽm có tỷ lệ gặp tác dụng không mong muốn nói chung cao hơn nhóm dùng giả dược [6]. Trong đó, triệu chứng vị giác khó chịu hoặc có vị kim loại trong miệng tăng rất cao ở nhóm dùng kẽm (OR = 2,64; khoảng tin cậy 95%: 1,91 đến 3,64; P < 0,00001) [6]. Viên ngậm cũng có thể gây kích ứng niêm mạc miệng ở một số trường hợp [7].

Đặc biệt, nguy cơ buồn nôn tăng hơn gấp đôi ở nhóm bổ sung kẽm so với nhóm đối chứng (OR = 2,15; khoảng tin cậy 95%: 1,44 đến 3,23; P = 0,002) [6]. Các tác dụng phụ khác được ghi nhận trong y văn còn có nôn mửa, đau quặn bụng và tiêu chảy [1]. Điều này giải thích vì sao một số người cảm thấy cồn cào hoặc khó chịu đường tiêu hóa ngay sau khi sử dụng kẽm liều cao lúc đang mệt mỏi [1] [6].

Hiểu lầm phổ biến khi dùng kẽm trị cảm cúm

Nhiều người lầm tưởng rằng kẽm là "thần dược" chữa khỏi hoàn toàn bệnh cảm lạnh chỉ sau một đêm [1]. Trên thực tế, cảm lạnh là bệnh do virus tự giới hạn và kẽm chỉ có vai trò hỗ trợ rút ngắn số ngày chịu đựng triệu chứng chứ không thể triệt tiêu bệnh tức thì [1] [4].

Một sai lầm phổ biến khác là đợi đến khi triệu chứng đã nặng, ho đờm nhiều ngày mới bắt đầu uống kẽm [2] [3]. Tất cả các phân tích lâm sàng đều khẳng định lợi ích điều trị chỉ đạt được tối đa hoặc rõ rệt nếu kẽm được bắt đầu sử dụng ngay trong vòng 24 giờ đầu tiên kể từ thời điểm chớm xuất hiện triệu chứng [2] [3] [7] [6]. Bổ sung trễ sau mốc này thường đem lại rất ít giá trị cải thiện [3].

Ngoài ra, quan niệm dùng kẽm dạng nào cũng như nhau là không đúng [3] [7]. Sử dụng các viên kẽm liều thấp dưới 75 mg mỗi ngày dạng kẽm đơn độc không mang lại hiệu quả rút ngắn thời gian ốm trong các nghiên cứu lâm sàng [3] [5]. Đồng thời, các viên kẽm chứa nhiều tá dược axit citric hoặc tartrate cũng bị cản trở giải phóng ion tự do, làm mất hoạt tính mong muốn [3] [7].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Các dữ liệu lâm sàng về việc dùng kẽm liều cao để điều trị cảm lạnh phần lớn được thử nghiệm trên người trưởng thành hoặc các nhóm đối tượng cụ thể trong nghiên cứu [7]. Do đó, việc tự ý bổ sung liều cao cần hết sức cẩn trọng ở một số nhóm người.

Hiện tại chưa có nghiên cứu chuyên biệt về tính an toàn của liều kẽm acetate hoặc gluconate trên 75 mg/ngày dành riêng cho phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ đang cho con bú khi bị cảm; dữ liệu rút ngắn bệnh nêu trên chủ yếu ghi nhận ở người lớn nói chung [3] [5] [7]. Nhóm đối tượng nhạy cảm này tuyệt đối không tự ý áp dụng phác đồ liều cao nếu chưa tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

Đối với trẻ em, một số nghiên cứu dùng kẽm dự phòng cho thấy giảm tỷ lệ nghỉ học, tuy nhiên liều lượng điều trị cấp tính cần tuân thủ nghiêm ngặt theo hướng dẫn y tế vì trẻ rất dễ nôn mửa khi quá liều [1] [6]. Người có tiền sử viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản hoặc các bệnh lý tiêu hóa mạn tính cũng cần cân nhắc, bởi kẽm liều cao có thể gây kích ứng niêm mạc, đau bụng và nôn [1] [6]. Bệnh nhân đang điều trị bệnh mạn tính bằng thuốc nên hỏi bác sĩ để tránh các tương tác thuốc không mong muốn.

Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn

Để tận dụng lợi thế của kẽm một cách an toàn khi chớm có dấu hiệu cảm cúm hay cảm lạnh, người bệnh có thể tham khảo các nguyên tắc thực tế sau:

  • Bắt đầu đúng thời điểm: Uống hoặc ngậm kẽm ngay trong 24 giờ đầu kể từ khi nhận thấy triệu chứng họng ngứa, hắt hơi hoặc nghẹt mũi [2] [3].
  • Lựa chọn dạng dùng thích hợp: Viên ngậm kẽm acetate hoặc kẽm gluconate giúp duy trì sự hiện diện của ion kẽm tự do tại niêm mạc họng [3] [7]. Tránh dùng chung cùng lúc với các sản phẩm hay thức uống chứa nhiều axit citric hoặc tartrate để không cản trở ion hóa [3] [7].
  • Cân nhắc liều lượng: Các nghiên cứu cho thấy liều kẽm nguyên tố trên 75 mg/ngày mới đem lại hiệu quả rút ngắn thời gian bệnh từ 20% đến 42% [3] [5]. Tuy nhiên, liều lượng này có thể gây buồn nôn, do đó không nên uống khi bụng quá đói và nên chia nhỏ lượng dùng trong ngày theo khuyến cáo sản phẩm [3] [6].
  • Thời gian sử dụng ngắn ngày: Kẽm liều cao chỉ nên dùng liên tục trong đợt cảm ngắn hạn (khoảng 5 ngày), không dùng kéo dài để tránh các tác dụng bất lợi cho cơ thể [8] [4].

Kẽm là giải pháp hỗ trợ đã được chứng minh giúp rút ngắn thời gian cảm lạnh nếu dùng đúng liều, đúng dạng và đúng thời điểm trong 24 giờ đầu [2] [3]. Tuy nhiên, đây không phải phương thuốc thay thế điều trị y khoa. Người bệnh nên duy trì uống đủ nước, nghỉ ngơi hợp lý và luôn tham khảo ý kiến nhân viên y tế khi triệu chứng kéo dài hoặc trở nặng.