Nhiều người khi nghe đến việc dùng đỉa chữa bệnh thường nghĩ ngay đến bài thuốc bột thủy đỉa phơi khô tán mịn trong y học cổ truyền, hoặc hình ảnh những con đỉa sống bám trên da hút máu. Hai cách tiếp cận này hoàn toàn khác nhau về bản chất, cơ chế sinh học, chỉ định y khoa lẫn mức độ rủi ro đối với tính mạng con người.
Nói một cách ngắn gọn, liệu pháp dùng đỉa sống (hirudotherapy) là một phương pháp y tế hiện đại đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt chính thức như một thiết bị y tế từ năm 2004 nhằm xử lý ứ trệ tĩnh mạch ngoại khoa [1, 4]. Ngược lại, dữ liệu nghiên cứu khoa học hiện đại hiện không có bằng chứng lâm sàng chuẩn mực nào công nhận hay cấp phép cho việc tự ý uống bột thủy đỉa khô; việc này tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc, nhiễm trùng và rối loạn đông máu khó lường.
Đỉa sống hút máu trong y học hiện đại tác động như thế nào?
Liệu pháp đỉa sống không đơn thuần là việc hút bỏ máu ứ đọng một cách cơ học [1]. Điểm cốt lõi nằm ở nước bọt của con đỉa khi bám vào mô sống của người bệnh, nơi tiết ra hàng loạt hoạt chất sinh học đặc hiệu [4, 8].
Phân tử được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất trong dịch tiết của đỉa là hirudin [2]. Đây là một polypeptide có khả năng ức chế trực tiếp thrombin – thành phần then chốt trong chuỗi đông máu – mà không cần đến antithrombin III như heparin, đồng thời không bị vô hiệu hóa bởi yếu tố tiểu cầu 4 [2]. Ngoài ra, nước bọt của đỉa còn chứa saratin, calin và apyrase giúp ức chế kết tập tiểu cầu; hyaluronidase và collagenase giúp thoái hóa chất nền ngoại bào hỗ trợ sửa chữa mô; các chất tương tự histamine và acetylcholine giúp tăng cường lưu lượng máu tại chỗ; cùng các phân tử như antistasin, chất ức chế tryptase, chất ức chế bổ thể C1 và eglin mang đặc tính chống viêm, giảm đau [6, 8].
Nhờ cơ chế này, việc đỉa hút máu tạo ra một đường thoát thay thế cho lượng máu tĩnh mạch bị ứ đọng, giúp giảm áp lực mao mạch và tăng tái tưới máu động mạch vào các giường mao mạch bị tổn thương [3].
Bột thủy đỉa đường uống: Thiếu vắng bằng chứng khoa học
Trong khi liệu pháp dùng đỉa sống được tiêu chuẩn hóa khắt khe trong ngoại khoa tạo hình, các sản phẩm dạng bột thủy đỉa hay xác đỉa khô uống theo kinh nghiệm dân gian lại hoàn toàn nằm ngoài các hướng dẫn điều trị chuẩn mực [1, 8]. Các tài liệu y khoa không có dữ liệu chứng minh hoạt tính chống đông hoặc tái thông mạch còn nguyên vẹn khi bột đỉa đi qua đường tiêu hóa của con người.
Khi sấy khô, tán bột và uống qua đường miệng, các chuỗi protein và polypeptide có hoạt tính quý giá như hirudin dễ dàng bị biến tính hoặc phân hủy bởi acid dạ dày cùng các enzym tiêu hóa trước khi hấp thu vào tuần hoàn. Hơn nữa, việc tự ý bào chế thủ công từ đỉa tự nhiên còn mang theo nguy cơ cao về độc tố nấm mốc, xác vi khuẩn và kim loại nặng tồn lưu. Hiện chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào xác lập liều lượng an toàn hoặc tính hiệu quả của bột thủy đỉa đường uống [2].
Các nghiên cứu lâm sàng nói gì về liệu pháp đỉa sống?
Các nghiên cứu lâm sàng hiện đại đã kiểm chứng vai trò của liệu pháp đỉa sống trong nhiều bối cảnh ngoại khoa và hồi sức khác nhau.
Một bài tổng quan toàn diện xuất bản năm 2019 khẳng định vai trò chủ đạo của đỉa y tế trong phẫu thuật tạo hình và tái tạo là giải áp tình trạng ứ trệ tĩnh mạch ở các vạt mô ghép có nguy cơ hoại tử [1]. Báo cáo nhấn mạnh rằng việc theo dõi và can thiệp kịp thời bằng đỉa y tế đóng vai trò như một giải pháp không phẫu thuật giúp cứu sống các vạt mô bị tắc nghẽn vi mạch [1].
Năm 2022, một báo cáo kỹ thuật đã mô tả phương pháp đặt đỉa vào khoang miệng để xử lý ứ trệ tĩnh mạch sau phẫu thuật tái tạo vạt tự do vùng đầu cổ [4]. Kỹ thuật này sử dụng đáy cốc trong suốt hoặc nắp nhựa cố định con đỉa bằng hai mũi khâu nhằm ngăn ngừa các nguy cơ đỉa di chuyển lạc vào đường thở, giảm thao tác xâm lấn trong miệng và hạn chế nguy cơ nhiễm trùng cũng như sự khó chịu cho người bệnh [4].
Tuy nhiên, liệu pháp đỉa sống không phải là chiếc chìa khóa vạn năng cho mọi bệnh lý mạch máu. Một nghiên cứu thuần tập quan sát hồi cứu năm 2022 tại khoa hồi sức tích cực nhi khoa đã đánh giá việc dùng đỉa y tế trên 7 bệnh nhi bị thiếu máu cục bộ chi cấp tính do tưới máu kém động mạch (5 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh và 2 trẻ bị sốc nhiễm virus) [5]. Thời gian can thiệp đỉa trung bình là 3 ngày sau phát hiện thiếu máu, thời gian dùng trung bình 3,9 ngày [5].
Kết quả cho thấy có tới 5 bệnh nhi phải ngừng liệu pháp do chảy máu nghiêm trọng; tỷ lệ tử vong lên tới 57% do suy đa tạng [5]. Trong 3 trẻ sống sót, có 4 trên 5 chi được điều trị vẫn phải cắt cụt ít nhất một phần, đồng thời lượng máu mất và nhu cầu truyền máu tăng lên rõ rệt [5]. Các tác giả kết luận không khuyến cáo dùng thường quy liệu pháp đỉa cho tình trạng thiếu máu cục bộ chi cấp tính do động mạch [5].
Đối với bệnh động mạch ngoại biên mạn tính, một số báo cáo ca bệnh ghi nhận đỉa giúp làm lành vết loét bàn chân đái tháo đường [2]. Chẳng hạn một ca bệnh nữ 74 tuổi bị loét chân nặng tránh được cắt cụt sau 1 tháng điều trị bằng đỉa [2]. Dù vậy, các chuyên gia khẳng định y văn vẫn thiếu dữ liệu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng và hiện tại Hoa Kỳ vẫn không khuyến cáo dùng liệu pháp đỉa để xử trí thiếu máu cục bộ chi trầm trọng [2].
Những rủi ro nghiêm trọng và biến chứng cần biết
Dù được FDA công nhận trong điều trị chuyên biệt, liệu pháp dùng đỉa sống đi kèm với hàng loạt rủi ro y khoa nghiêm trọng đòi hỏi phải có sự giám sát liên tục của nhân viên y tế [1, 6].
Rủi ro lớn nhất và phổ biến nhất là nhiễm trùng vi khuẩn Aeromonas [3, 6]. Vi khuẩn cộng sinh Aeromonas (đặc biệt là loài Aeromonas veronii biovar sobria) luôn tồn tại tự nhiên trong ruột của đỉa y tế và mẫu nước nuôi [6]. Khi đỉa cắn, vi khuẩn này có thể xâm nhập vết thương gây nhiễm trùng bề mặt, nhiễm trùng sâu, viêm mô tế bào, áp xe dưới da và thậm chí dẫn tới nhiễm trùng huyết đe dọa tính mạng [3, 6].
Một nghiên cứu năm 2014 đã tìm cách loại bỏ vi khuẩn này bằng cách cho đỉa Hirudo verbana ăn 1,5 mL máu cừu vô trùng bổ sung kháng sinh ciprofloxacin (ở nồng độ 0,2 mcg/mL hoặc 20 mcg/mL) hoặc cefotaxime (1,5 mcg/mL hoặc 50 mcg/mL) [6]. Kết quả cho thấy nồng độ diệt khuẩn 20 mcg/mL ciprofloxacin và 50 mcg/mL cefotaxime đã triệt tiêu hoàn toàn vi khuẩn Aeromonas trong ruột đỉa về mức không thể phát hiện trong vòng hai tuần, với số lượng khuẩn lạc giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001) [6]. Do đó, việc dùng kháng sinh dự phòng (như nhóm fluoroquinolone) là chỉ định bắt buộc trong thực hành lâm sàng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân [3, 6].
Biến chứng nguy hiểm thứ hai là hiện tượng chảy máu kéo dài không kiểm soát dẫn đến mất máu cấp và thiếu máu, đòi hỏi phải truyền máu bổ sung [5, 6]. Ngoài ra, người bệnh có thể gặp các phản ứng dị ứng tại chỗ, sốc phản vệ hoặc nguy cơ đỉa di chuyển lạc vào các tạng nội mạc như đường hô hấp [2, 6].
Những hiểu lầm thường gặp của người dân
Rất nhiều người lầm tưởng rằng đỉa nào cũng có thể bắt ngoài đồng ruộng về để hút máu chữa bệnh hoặc phơi khô làm thuốc. Đây là hiểu lầm cực kỳ nguy hiểm. Đỉa tự nhiên ngoài môi trường mang tải lượng vi khuẩn gây bệnh rất lớn, việc để chúng cắn trực tiếp vào cơ thể dễ gây nhiễm trùng hoại tử nặng [3, 6].
Một hiểu lầm khác là cho rằng uống bột đỉa có thể "đánh tan" mọi cục máu đông hay chữa dứt điểm bệnh tắc nghẽn mạch máu mạn tính. Như đã nêu, các hoạt chất sinh học chống đông quý giá trong nước bọt đỉa chỉ phát huy hiệu quả khi được phóng thích trực tiếp vào mô sống và chưa có bằng chứng nào chứng minh bột đỉa uống an toàn hay có tác dụng tương đương [4, 8].
Bên cạnh đó, rào cản tâm lý cũng rất lớn. Một nghiên cứu năm 2017 về mức độ chấp thuận của người bệnh đối với liệu pháp đỉa (thang điểm từ 0 đến 10) chỉ ra rằng phản ứng đầu tiên của bệnh nhân và người chăm sóc thường là sự ác cảm và ghê sợ do đặc tính hút máu và bám dính của con đỉa [7]. Tuy nhiên, sau khi được nhân viên y tế giải thích kỹ lưỡng về lợi ích trong việc cứu sống các vạt mô phẫu thuật, mức độ tuân thủ và chấp thuận điều trị của bệnh nhân đã được cải thiện rõ rệt [7].
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Chưa có nghiên cứu chứng minh độ an toàn của việc dùng đỉa hay bột đỉa trên phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú và các đối tượng nhạy cảm. Dữ liệu trên nhóm bệnh nhi cũng cho thấy liệu pháp đỉa trong bối cảnh thiếu máu động mạch nặng có tỷ lệ thất bại và biến chứng chảy máu rất cao [5].
Những người có tiền sử dị ứng, người mắc chứng rối loạn đông máu nội tại, người đang dùng các thuốc chống đông máu hoặc kháng kết tập tiểu cầu cần hết sức cẩn trọng vì nguy cơ xuất huyết ồ ạt [1, 6]. Bệnh nhân suy giảm miễn dịch tuyệt đối không được tự ý tiếp xúc với đỉa sống do nguy cơ nhiễm trùng huyết vi khuẩn Aeromonas [3, 6]. Người bệnh có các vấn đề mạch máu hoặc bệnh nền đái tháo đường, tim mạch cần thăm khám tại bệnh viện chuyên khoa và tuân thủ phác đồ điều trị chính thống, không tự ý dùng các bài thuốc đỉa truyền miệng [5, 8].
Khuyến nghị áp dụng trong đời sống
Người dân tuyệt đối không tự ý bắt đỉa ngoài tự nhiên để đắp lên các vết thương, vết loét, và không tự mua bột thủy đỉa không rõ nguồn gốc để uống nhằm mục đích trị bệnh mạch máu. Mọi hình thức can thiệp bằng đỉa sống (hirudotherapy) chỉ được thực hiện tại các cơ sở y tế chuyên khoa có chứng nhận, sử dụng đỉa nuôi y tế vô trùng, có quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn dự phòng bằng kháng sinh và theo dõi chỉ số đông máu liên tục [1, 3, 6]. Khi đứng trước các chỉ định can thiệp ngoại khoa hoặc bảo tồn vạt mô bằng đỉa y tế, người bệnh nên thảo luận kỹ lưỡng với bác sĩ phẫu thuật để hiểu rõ tỷ lệ thành công cũng như các biện pháp bảo vệ an toàn đi kèm [1, 4].
Nhìn chung, đỉa y tế sống là một công cụ hỗ trợ ngoại khoa chuyên sâu đã được y học hiện đại công nhận trong các trường hợp ứ trệ tĩnh mạch vạt mô [1]. Ngược lại, bột thủy đỉa uống chưa có đủ căn cứ khoa học xác thực và tiềm ẩn rủi ro sức khỏe lớn. Sự hiểu biết đúng đắn và tuân thủ chỉ dẫn của bác sĩ là biện pháp tốt nhất để bảo vệ an toàn cho bản thân.

