Mỗi khi mắt đỏ hoe, cộm rát và đổ ghèn, nhiều người thường rỉ tai nhau tìm lá cây thuốc thượng (còn gọi là phao mèo, thuộc chi Phaeanthus) giã lấy nước nhỏ thẳng vào mắt. Mẹo dân gian này được truyền miệng là cách "thần tốc" giúp trị khỏi đau mắt đỏ mà không cần đến bệnh viện.
Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học hiện nay cho thấy người dân tuyệt đối không nên tự ý dùng nước ép từ loại cây này để nhỏ trực tiếp vào mắt. Dù một số hoạt chất chiết xuất trong ống nghiệm có hoạt tính sinh học, việc dùng lá tươi nhỏ mắt tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng và hoại tử giác mạc khôn lường.
Cây thuốc thượng và thói quen chữa bệnh truyền miệng
Đau mắt đỏ (viêm kết mạc) là chứng bệnh rất phổ biến trong cộng đồng, gây cảm giác khó chịu, cộm xốn và ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày. Thay vì đi khám chuyên khoa mắt, không ít người chọn các loại cây cỏ quanh nhà với niềm tin thảo mộc tự nhiên là lành tính.
Cây thuốc thượng (tên khoa học là Phaeanthus vietnamensis) từ lâu đã được ghi nhận trong y học cổ truyền như một vị thuốc dùng để trị các bệnh lý viêm nhiễm [1]. Ở một số vùng miền, người dân thường hái lá, giã nát rồi chắt lấy phần nước cốt để nhỏ trực tiếp vào mắt đang bị sưng đỏ. Hành động bột phát này xuất phát từ việc thấy cây có tác dụng làm mát tức thời hoặc dựa theo kinh nghiệm lưu truyền từ xa xưa.
Hoạt tính kháng viêm trong phòng thí nghiệm
Để giải mã kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã tiến hành phân lập nhiều hoạt chất từ loài thực vật này. Trong một nghiên cứu công bố năm 2017, các chuyên gia đã tách chiết ba hợp chất mới cùng 12 hợp chất đã biết từ lá cây Phaeanthus vietnamensis [1]. Nghiên cứu này đánh giá khả năng ức chế sản sinh oxit nitric (NO) – một chất trung gian gây viêm – trên mô hình tế bào thần kinh đệm BV2 bị kích thích bởi LPS trong ống nghiệm [1]. Kết quả cho thấy hợp chất số 6 thể hiện khả năng ức chế mạnh nhất với giá trị IC50 là 15,7 ± 1,2 µM; các hợp chất 2, 7 và 8 cũng ức chế tạo NO viêm đáng kể với giá trị IC50 từ 22,6 đến 25,3 µM [1].
Đến năm 2022, một nghiên cứu khác công bố việc phân lập từ dịch chiết axit của lá Phaeanthus vietnamensis một alkaloid mới tên là vietnamine A cùng 8 alkaloid đã biết [2]. Khi thử nghiệm trên tế bào đại thực bào RAW 264.7 được kích thích bởi LPS, các nhà khoa học ghi nhận vietnamine A và hai alkaloid khác thể hiện hoạt tính ức chế tạo NO viêm rất rõ rệt, với giá trị IC50 lần lượt đạt 6,8 ± 0,9, 9,8 ± 1,0 và 7,1 ± 0,4 µg/ml [2].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2023 trên mô hình chuột thí nghiệm bị hen suyễn do OVA cho thấy dịch chiết Phaeanthus vietnamensis dùng theo đường uống (liều 50, 100, 200 mg/kg một lần mỗi ngày) giúp cân bằng tỷ lệ Th1/Th2, giảm tế bào viêm trong dịch rửa phế quản phế nang và cải thiện tổn thương mô học phổi [3]. Những dữ liệu này xác nhận cây thuốc thượng có chứa các phân tử tự nhiên sở hữu hoạt tính kháng viêm trong điều kiện thí nghiệm.
Bằng chứng kháng khuẩn từ loài thực vật cùng chi
Một lý do khiến cây thuốc thượng hay được nhắc đến trong điều trị đau mắt là các nghiên cứu trên loài cùng chi họ. Nghiên cứu công bố năm 2021 tại Philippines trên cây Phaeanthus ophthalmicus – loài thực vật mọc ở rừng đất thấp đảo Luzon từng được người bản địa dùng trị viêm kết mạc do vi khuẩn, vết loét và nhiễm trùng vết thương – đã cung cấp thêm góc nhìn [4].
Nghiên cứu này được tiến hành trong phòng thí nghiệm (in vitro) và mô phỏng trên máy tính (in silico) [4]. Dịch chiết thô dichloromethane-methanol cùng các phân đoạn alkaloid đã được thử nghiệm trên các chủng vi khuẩn kháng thuốc [4]. Các nhà nghiên cứu đã tinh sạch được hai alkaloid tetrahydrobisbenzylisoquinoline chính là (+)-tetrandrine và (+)-limacusine [4]. Cả hai hoạt chất này đều thể hiện hoạt tính kháng khuẩn phổ rộng, trong đó ức chế mạnh nhất đối với các chủng vi khuẩn Gram âm như Pseudomonas aeruginosa mang gen MbetaL và Klebsiella pneumoniae mang gen CRE [4].
Đặc biệt, alkaloid limacusine còn cho thấy tác dụng ức chế chọn lọc enzym gây viêm COX-2 của cừu trong ống nghiệm [4]. Thử nghiệm mô phỏng gắn kết phân tử chỉ ra hoạt chất này gắn kết mạnh vào vị trí xúc tác của enzym elastase trên P. aeruginosa và carbapenemase KPC-2 trên K. pneumoniae [4]. Nghiên cứu đưa ra bằng chứng bước đầu chứng minh kinh nghiệm dùng cây cỏ này như một chất bổ trợ có nguồn gốc thực vật [4].
Từ ống nghiệm đến đôi mắt: Khoảng cách nguy hiểm
Mặc dù các alkaloid tinh khiết cho thấy tiềm năng kháng khuẩn và kháng viêm trong ống nghiệm, việc áp dụng lá cây tươi trên người lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Mọi nghiên cứu của Phaeanthus vietnamensis mới chỉ dừng lại ở mức độ tế bào nuôi cấy trong đĩa petri [1], [2] hoặc mô hình chuột thí nghiệm uống thuốc trị viêm đường hô hấp [3]. Cho đến nay, chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh tính an toàn và hiệu quả khi nhỏ dịch ép cây thuốc thượng vào mắt người.
Hơn nữa, dịch chiết được các nhà khoa học sử dụng đã trải qua quy trình chiết xuất hóa học phức tạp bằng dung môi công nghiệp và tinh sạch nhiều bước [1], [4], [2]. Nước giã từ lá tươi hoàn toàn không tương đồng với các hoạt chất tinh khiết này. Trong lá cây tươi ngoài alkaloid còn chứa vô số tạp chất, nhựa cây gây kích ứng và nồng độ hoạt chất không được kiểm soát.
Mối nguy hiểm lớn nhất đến từ nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật. Mắt là cơ quan cực kỳ nhạy cảm với lớp niêm mạc mỏng manh. Khi dùng cối, chày giã lá cây ngoài môi trường tự nhiên, dịch thu được chắc chắn bị nhiễm bào tử nấm, vi khuẩn từ đất cát và bề mặt thực vật. Nhỏ dung dịch nhiễm khuẩn này lên bề mặt nhãn cầu đang bị tổn thương có thể biến một đợt đau mắt đỏ thông thường thành viêm loét giác mạc nghiêm trọng, thậm chí thủng nhãn cầu và mù lòa vĩnh viễn.
Hiểu lầm phổ biến về việc dùng cây cỏ chữa mắt
Nhiều người lầm tưởng rằng cây cỏ tự nhiên thì "lành tính, không bổ ngang cũng bổ dọc". Đây là quan niệm sai lầm đã khiến nhiều bác sĩ nhãn khoa phải xử lý những ca biến chứng nặng nề. Thuốc nhỏ mắt sản xuất theo quy chuẩn y tế bắt buộc phải đạt độ vô trùng tuyệt đối, có độ pH và áp suất thẩm thấu phù hợp để không phá hủy tế bào biểu mô giác mạc. Nước lá tự chế không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe này.
Một hiểu lầm khác là quy chụp tác dụng kháng khuẩn trong ống nghiệm thành thuốc chữa bệnh thực tế. Việc một hoạt chất tiêu diệt được vi khuẩn trong đĩa thí nghiệm không đồng nghĩa với việc nó sẽ có tác dụng tương tự và an toàn khi tiếp xúc với mô sống phức tạp của con người. Hơn nữa, viêm kết mạc có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như virus hoặc dị ứng, trường hợp này các chất kháng khuẩn hoàn toàn không có giá trị điều trị.
Những ai cần tuyệt đối tránh xa phương pháp này?
Bất kỳ ai đang gặp vấn đề về mắt đều không nên áp dụng biện pháp giã lá thuốc thượng nhỏ mắt. Đặc biệt, các nhóm đối tượng sau càng phải cẩn trọng:
- Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Mắt trẻ em rất non nớt, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, nguy cơ biến chứng bội nhiễm dẫn tới suy giảm thị lực vĩnh viễn là cực kỳ cao.
- Phụ nữ mang thai và cho con bú: Chưa có nghiên cứu nào về độc tính của các alkaloid này trên thai nhi hoặc khả năng bài tiết qua sữa mẹ.
- Người đeo kính áp tròng hoặc có tổn thương giác mạc từ trước: Lớp biểu mô bảo vệ mắt của nhóm này đã suy yếu, việc đưa vi khuẩn lạ vào mắt sẽ đẩy nhanh tốc độ hoại tử mô.
- Người có bệnh lý mắt mãn tính hoặc thể trạng suy giảm miễn dịch: Cần tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa, tránh xa các mẹo dân gian chưa được kiểm chứng.
Xử trí đau mắt đỏ an toàn và khoa học
Khi xuất hiện các triệu chứng đau mắt đỏ như mắt cộm xốn, đỏ, chảy nước mắt hoặc nhiều gỉ, người bệnh nên thực hiện các biện pháp chăm sóc khoa học đã được xác lập:
- Giữ vệ sinh mắt hàng ngày bằng cách rửa mắt với nước muối sinh lý vô trùng (dung dịch Natri Clorid 0,9%) dành riêng cho mắt để loại bỏ dịch tiết và ghèn bẩn.
- Dùng khăn mặt riêng, giặt sạch và phơi khô dưới ánh nắng; rửa tay thường xuyên bằng xà phòng để tránh lây nhiễm chéo sang mắt còn lại hoặc lây cho người xung quanh.
- Tuyệt đối không tự ý đắp lá, xông hơi lá nóng hay nhỏ bất kỳ loại nước ép cây cỏ nào vào mắt.
- Đến ngay các cơ sở y tế có chuyên khoa mắt để được bác sĩ thăm khám, xác định chính xác nguyên nhân (do virus, vi khuẩn hay dị ứng) và kê đơn thuốc nhỏ mắt vô trùng phù hợp.
Dù các alkaloid từ cây thuốc thượng cho thấy những tiềm năng sinh học nhất định trong phòng thí nghiệm [1], [4], [2], khoảng cách từ ống nghiệm đến thuốc nhỏ mắt an toàn cho người vẫn còn rất xa. Người dân không nên đem thị lực của bản thân ra đánh cược với các mẹo chữa bệnh truyền miệng thiếu căn cứ khoa học. Khi mắt gặp vấn đề, thăm khám bác sĩ chuyên khoa luôn là giải pháp an toàn và hiệu quả nhất.


