Cỏ sữa là cây thuốc mọc hoang quen thuộc tại Việt Nam, thường gặp ở ven đường, bãi cỏ và bờ ruộng. Trong dân gian, người dân hay dùng hai loại cỏ sữa: cỏ sữa lá to và cỏ sữa lá nhỏ để chữa các vấn đề về tiêu hóa, viêm da hay mụn nhọt. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lầm tưởng hai cây này có dược tính và cách dùng giống nhau.
Thực tế, cỏ sữa lá to (tên khoa học: Euphorbia hirta) và cỏ sữa lá nhỏ (tên khoa học: Euphorbia thymifolia) là hai loài hoàn toàn khác biệt. Dù cùng thuộc chi Euphorbia, chúng mang cấu trúc hợp chất sinh học riêng và cho thấy những định hướng ứng dụng điều trị không đồng nhất [1, 5, 8].
Nhận diện và nguồn gốc của cỏ sữa lá to và cỏ sữa lá nhỏ
Cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta) là cây thân thảo hàng năm mọc đứng hoặc bò lan, thân cây chứa nhựa mủ trắng đặc trưng [1, 3]. Loài cây này phân bố rộng rãi, có mặt ở nhiều nước châu Á và được biết đến với nhiều tên gọi bản địa khác nhau như choti dudhi ở Ấn Độ, gelang susu ở Malaysia hay tawa-tawa tại Philippines [1]. Đôi khi loài cây này còn bị nhầm lẫn về mặt hình thái với loài họ hàng Euphorbia indica [2].
Trong khi đó, cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia) là loài thân thảo nhỏ mọc bò sát mặt đất, có lông thô ráp, nhánh chia nhiều và phiến lá nhỏ hơn nhiều so với cỏ sữa lá to [5, 8]. Cây phân bố phổ biến ở những vùng đất hoang, đồng cỏ tại hầu hết các quốc gia châu Á [3].
Cả hai cây đều là thảo mộc lâu đời trong nền y học dân gian cổ truyền [4, 5]. Sự khác biệt về hình thái từ thế mọc đứng của cỏ sữa lá to đến thế bò sát đất của cỏ sữa lá nhỏ cũng kéo theo sự khác biệt trong hệ hoạt chất mà chúng tích lũy [3, 8].
Khác biệt về hợp chất tự nhiên: Flavonoid, tannin và các hoạt chất
Nghiên cứu phân tích thành phần bằng phương pháp sắc ký khí - khối phổ (GC-MS) trên dịch chiết cồn của cỏ sữa lá to đã nhận diện hơn 20 hợp chất sinh học có hoạt tính [4]. Nhóm hợp chất đem lại khả năng kháng khuẩn gồm có heneicosane, methyloctosane, tetracosane và beta sitosterol [4]. Hoạt tính kháng viêm gắn liền với n-hexadeconoic acid, hexacosane, alpha-amyrin và beta-amyrin, còn hoạt tính chống oxy hóa xuất phát từ vitamin E và squalene [4].
Đối với cỏ sữa lá nhỏ (Euphorbia thymifolia), các phân tích hóa thực vật lại xác định nhóm hoạt chất rất giàu các flavonoid và dẫn xuất polyphenol [3]. Một nghiên cứu mô phỏng phân tử (in silico) năm 2016 đã sàng lọc 20 phối tử từ cây và phát hiện 7 hợp chất có ái lực gắn kết mạnh [3]. Nhóm này bao gồm các hợp chất tiêu biểu như beta-amyrin, taraxerol, 1-O-galloyl-beta-d-glucose, cùng các tannin và flavonoid mạnh mẽ là corilagin, cosmosiin, quercetin-3-galactoside và quercitrin [3].
Sự hiện diện của các flavonoid và hợp chất tannin như quercitrin hay corilagin ở cỏ sữa lá nhỏ giúp cây có khả năng gắn kết mạnh với các thụ thể protein chuyển hóa [3]. Ngược lại, cỏ sữa lá to tập trung nhiều vào các chuỗi hydrocacbon kháng khuẩn, sterol và triterpenoid như alpha-amyrin, beta-amyrin [4].
Cơ chế tác động sinh học của hai loài cỏ sữa
Dịch chiết lá của cỏ sữa lá to thể hiện tác dụng ức chế trực tiếp đối với vi sinh vật gây hại thông qua các hợp chất bề mặt và thành phần kháng khuẩn tự nhiên [1, 3]. Các chất chống oxy hóa như vitamin E, squalene cùng hợp chất chống viêm giúp làm giảm nồng độ gốc tự do và hạ mức độ phản ứng viêm cục bộ theo cơ chế phụ thuộc nồng độ [3, 7].
Ở cỏ sữa lá nhỏ, các hợp chất flavonoid và tannin như cosmosiin, quercetin-3-galactoside, corilagin có khả năng hình thành liên kết hydro và tương tác kỵ nước chặt chẽ với các đích phân tử protein [3]. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những chất này tác động lên 4 protein đích gồm 11-beta hydroxysteroid dehydrogenase type 1, glutamine: fructose-6-phosphate amidotransferase, protein-tyrosine phosphatase 1B và mono-ADP-ribosyltransferase sirtuin-6 [3].
Việc tương tác sâu với các thụ thể này tạo ra cơ chế tác động chuyển hóa, giải thích cho khả năng can thiệp vào đường huyết mà y học ghi nhận ở loài cỏ sữa lá nhỏ [3].
Bằng chứng khoa học về công dụng của cỏ sữa lá to
Năm 2021, một nghiên cứu đánh giá chế phẩm nước súc miệng từ cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta) cho thấy khả năng ức chế vi khuẩn Streptococcus mutans - tác nhân chính gây sâu răng [5]. Thử nghiệm tiếp xúc ở độ pha loãng thấp nhất (10^-5) làm giảm số lượng khuẩn lạc vi khuẩn chỉ sau 30 giây tiếp xúc [5]. Ba công thức thử nghiệm F1, F2 và F3 làm giảm lần lượt 28,57%, 44,76% và 57,14% khuẩn lạc [5]. Đường kính vòng kháng khuẩn trước khi bảo quản của công thức F3 đạt 20,8 +- 0,56 mm so với đối chứng âm là 7,7 +- 1,46 mm, và sau 1 tuần bảo quản vẫn giữ được vòng kháng khuẩn lớn 20,9 +- 0,95 mm [5]. Toàn bộ các bộ phận như lá, cành và phần trên mặt đất của cây đều sở hữu đặc tính kháng khuẩn này [5].
Một nghiên cứu công bố năm 2024 khảo sát dịch chiết cồn lá cỏ sữa lá to bằng cả thử nghiệm trong ống nghiệm lẫn mô phỏng tính toán [6]. Kết quả chỉ ra hoạt tính chống oxy hóa và kháng viêm của dịch chiết tăng dần theo liều lượng thử nghiệm từ 100 đến 500 mcg/ml [6].
Năm 2014, một nghiên cứu trên cá chép (Cyprinus carpio) nhiễm khuẩn Aeromonas hydrophila cho thấy dịch chiết lá cỏ sữa lá to giúp kích thích hệ miễn dịch [7]. Khi bổ sung dịch chiết vào thức ăn ở nồng độ cao (25 g và 50 g), số lượng hồng cầu, bạch cầu, nồng độ huyết sắc tố và hiệu giá kháng thể đặc hiệu tăng lên [7]. Ở nồng độ 50 g, dịch chiết kích thích các đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu như hoạt tính lysozyme, tỷ lệ thực bào, xét nghiệm NBT và loại bỏ mầm bệnh trong máu và thận, đồng thời cải thiện tỷ lệ sống sót của cá có ý nghĩa thống kê (p < 0,05 và p < 0,01) [7].
Bằng chứng khoa học về công dụng của cỏ sữa lá nhỏ
Khác với định hướng khử khuẩn hay điều hòa miễn dịch của cỏ sữa lá to, cỏ sữa lá nhỏ tập trung vào việc hỗ trợ rối loạn đường ruột, làm chất se, diệt giun sán và ổn định chuyển hóa [5, 8]. Tổng quan dữ liệu thu thập từ các tạp chí y dược trong suốt 32 năm khẳng định lá, hạt và nước ép tươi của toàn cây cỏ sữa lá nhỏ được sử dụng trị nhiễm giun sán, đóng vai trò chất kích thích, chất làm se da và dùng trong các than phiền về đường ruột [8].
Năm 2016, nghiên cứu mô phỏng phân tử (in silico) đã giải mã cơ chế chống tăng đường huyết của cỏ sữa lá nhỏ vốn từng ghi nhận trên mô hình chuột [3]. Kết quả chỉ ra 7 hợp chất gồm beta-amyrine, taraxerol, 1-O-galloyl-beta-d-glucose, corilagin, cosmosiin, quercetin-3-galactoside và quercitrin có ái lực gắn kết rất cao (nhỏ hơn -8,0 kcal/mol) với cả 4 protein mục tiêu của bệnh đái tháo đường týp 2 [3].
Các tương tác này khẳng định tiềm năng hỗ trợ điều trị đái tháo đường của các hợp chất trong cỏ sữa lá nhỏ thông qua cơ chế can thiệp enzym và kiểm soát đường huyết ở cấp độ tế bào [3].
Độc tính tiềm ẩn: Bài học từ nghiên cứu trên động vật
Dù có nhiều hoạt tính sinh học giá trị, việc tự ý dùng cỏ sữa lá to đường uống ở liều cao tiềm ẩn rủi ro nghiêm trọng về sức khỏe [1]. Năm 2013, một nghiên cứu được tiến hành trên 32 chuột cống đực trưởng thành giống Sprague-Dawley được chia thành 4 nhóm để đánh giá siêu cấu trúc gan, thận và động mạch chủ [1]. Ba nhóm chuột được cho uống dịch chiết nước của cỏ sữa lá to với các liều 1, 10 và 50 mg/kg mỗi 2 ngày một lần trong 50 ngày, nhóm còn lại dùng làm đối chứng [1].
Kết quả quan sát qua kính hiển vi điện tử cho thấy mô động mạch chủ không bị tổn thương [1]. Tuy nhiên, mô thận và mô gan ở các nhóm chuột dùng thảo mộc lại xuất hiện tổn thương phụ thuộc vào liều dùng [1]. Các tổn thương cấu trúc tế bào này bắt đầu từ nhân tế bào và lan dần ra ngoài, biểu hiện tương tự như độc tính của nhóm kháng sinh quinolone [1].
Điều này chứng minh cỏ sữa lá to không hoàn toàn lành tính khi sử dụng qua đường uống kéo dài, đòi hỏi người dùng phải đặc biệt cẩn trọng với liều dùng và thời gian sử dụng [1].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng cỏ sữa
Một hiểu lầm rất phổ biến là cho rằng hai cây cỏ sữa có thể dùng thay thế lẫn nhau trong mọi bài thuốc dân gian. Trên thực tế, cỏ sữa lá nhỏ thích hợp cho các tình trạng đường ruột cần làm se, diệt giun hoặc tiềm năng hỗ trợ chuyển hóa [5, 8]. Trong khi đó, cỏ sữa lá to mạnh về khả năng kháng khuẩn miệng, kháng viêm tại chỗ hoặc các bệnh nhiễm khuẩn [1, 3, 4].
Nhiều người cũng nghĩ cây cỏ mọc hoang đều an toàn và có thể nấu nước uống thay trà hàng ngày. Bằng chứng tổn thương gan và thận trên động vật cho thấy việc tự ý sắc cỏ sữa lá to uống dài ngày là thói quen có thể dẫn đến nguy hại [1]. Thêm vào đó, việc dùng dược liệu không thể thay thế cho các phác đồ điều trị y tế chính quy hay thuốc hạ đường huyết đã được bác sĩ chỉ định.
Những ai cần thận trọng khi sử dụng?
Người có bệnh nền về gan, suy thận hoặc tiền sử men gan cao cần hết sức cẩn trọng, không nên uống dịch chiết cỏ sữa lá to vì nguy cơ làm tăng gánh nặng tổn thương mô tạng [1].
Chưa có nghiên cứu đầy đủ trên phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ. Do đó, các nhóm đối tượng nhạy cảm này tuyệt đối không được tự ý sử dụng các chế phẩm dạng uống từ cỏ sữa khi chưa có chỉ định y khoa.
Bệnh nhân đái tháo đường đang dùng thuốc hạ đường huyết nếu muốn dùng cỏ sữa lá nhỏ cần tham vấn bác sĩ điều trị, tránh nguy cơ tương tác thuốc làm hạ đường huyết quá mức do ái lực của các hoạt chất lên các thụ thể chuyển hóa [3].
Hướng dẫn áp dụng trong thực tế đời sống
Khi muốn sử dụng cỏ sữa, việc đầu tiên là nhận diện chính xác loài cây để tránh nhầm lẫn hình thái [2]. Cỏ sữa lá to có thể ứng dụng trong các chế phẩm vệ sinh răng miệng ngoài da nhờ đặc tính ức chế khuẩn Streptococcus mutans [5]. Người dân có thể dùng nước nấu để rửa các vết viêm ngoài da hoặc dùng nước súc miệng có thành phần này [1, 7].
Với cỏ sữa lá nhỏ, cây thường dùng ở dạng nước sắc trong thời gian ngắn để hỗ trợ tiêu hóa hoặc giảm cảm giác khó chịu ở ruột dựa trên tác dụng làm se truyền thống [8]. Dược liệu cần được rửa thật sạch, phơi khô hợp vệ sinh trước khi chế biến [4].
Tuyệt đối chỉ sử dụng với lượng vừa phải, không dùng thay thế nước uống hàng ngày và không kéo dài thời gian dùng thuốc [1]. Nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về tiêu hóa hay mệt mỏi, người dùng cần ngưng sử dụng ngay và đến cơ sở y tế.
Tóm lại, cả cỏ sữa lá to và cỏ sữa lá nhỏ đều là những nguồn dược liệu quý chứa nhiều hoạt chất sinh học triển vọng [3, 5]. Việc phân biệt rạch ròi thành phần flavonoid, tannin cùng độc tính gan thận là cơ sở để người dùng khai thác lợi ích một cách an toàn và đúng mục đích [4, 8].

