Bối cảnh và nhầm lẫn thường gặp giữa dây và hạt

Cây bòng bong (thuộc chi Lygodium) là loại dương xỉ quen thuộc ở vùng đồi núi và bờ rào nông thôn Việt Nam. Nhiều người khi dùng làm mát gan, thông tiểu thường mua cả nắm dây lá phơi khô về đun nước uống hàng ngày. Tuy nhiên, khi đi bốc thuốc Đông y, thầy thuốc lại hay kê vị thuốc có tên gọi riêng là hải kim sa.

Nhiều người lầm tưởng dây bòng bong và hải kim sa là hai loại thảo dược hoàn toàn khác nhau. Thực chất, hải kim sa chính là những hạt phấn nhỏ li ti, hay đúng hơn là lớp bào tử chín khô thu hoạch từ mặt dưới lá bòng bong. Toàn bộ phần thân, cành và lá dây leo được gọi là dây bòng bong hoặc hải kim sa thảo.

Chính vì cùng sinh ra từ một cái cây, không ít người dùng tiện đâu dùng đó hoặc gom chung tất cả vào nồi đun. Sự thiếu phân định này khiến người bệnh không đạt được hiệu quả mong muốn khi hỗ trợ các vấn đề sức khỏe khác nhau. Việc hiểu rõ sự khác biệt giữa hai bộ phận dùng sẽ giúp người dùng tối ưu hóa công dụng thực tế.

Phân biệt bản chất: Toàn cây bòng bong và bào tử hải kim sa

Dây bòng bong là toàn bộ phần thân leo và lá xanh phơi khô của cây. Loại dương xỉ này có tên khoa học phổ biến là Lygodium japonicum hoặc Lygodium flexuosum, phân bố nhiều ở các nước châu Á [1, 3, 4]. Bộ phận này chiếm khối lượng sinh khối lớn, thu hái dễ dàng quanh năm bằng cách cắt sát gốc rồi đem rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Trong khi đó, bào tử hải kim sa lại là bộ phận sinh sản vô tính của loài dương xỉ này. Hàng triệu hạt bụi màu vàng nâu mịn màng, sờ vào thấy êm tay, rắc lên nước nổi lơ lửng chứ không chìm ngay lập tức. Tên gọi "hải kim sa" trong tiếng Hán có nghĩa là bãi cát vàng óng ánh trên biển, miêu tả sinh động màu sắc và kích thước của những hạt bào tử này.

Để thu hoạch được một lượng nhỏ hạt bào tử vàng mịn, người trồng phải canh đúng thời điểm lá già vào cuối mùa thu. Nếu cắt quá sớm khi túi bào tử chưa chín, hạt sẽ lép và không rụng; nếu cắt muộn, gió sẽ cuốn bay toàn bộ số hạt quý giá. Sự khác biệt về dạng vật chất, tỷ lệ thu hoạch và phương thức thu gom tạo nên sự tách biệt rõ ràng giữa hai dạng dùng.

Thành phần hoạt chất qua nghiên cứu phân lập hóa học

Các phân tích hóa thực vật chi tiết trên toàn cây bòng bong đã chỉ ra nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học đa dạng. Trong nghiên cứu phân lập từ phần thảo của cây Lygodium japonicum, các nhà khoa học đã tách chiết thành công hàng loạt hợp chất flavonoid và acid phenolic [1]. Những chất này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên đặc tính kháng viêm, chống oxy hóa chung của cây thân thảo [1].

Cụ thể, các nhà nghiên cứu đã phân lập và xác định cấu trúc của 6 hợp chất phenolic độc đáo từ phần thảo của Lygodium japonicum [1]. Danh sách bao gồm 3,4-dihydroxyl benzoic acid 4-O-beta-D-(4'-O-methyl) glucopyranoside, acid protocatechuic, acacetin 7-O-(6'-O-a-L-rhamnopyranosyl)-beta-sophoroside, vinenin (6,8-di-glucosylapigenin), tricin-7-O-beta-D-glucopyranoside và 2-anilino-1,4-naphthoquinone [1]. Tất cả các hợp chất phân lập được này đều lần đầu tiên được tìm thấy trong họ bòng bong Lygodiaceae [1].

Một công trình nghiên cứu khác trên cây bòng bong Lygodium japonicum cũng tiến hành phân tách các hợp chất hóa học bằng kỹ thuật sắc ký cột [2]. Kết quả đã ghi nhận và làm sáng tỏ cấu trúc của 8 hợp chất tự nhiên quan trọng [2]. Các chất bao gồm tilianin, kaempferol-7-O-alpha-L-rhamnopyranoside, kaempferol, p-coumaric acid, hexadecanoic acid 2,3-dihydroxy-propyl ester, daucosterol, beta-sitosterol và 1-hentriacontanol [2]. Trong đó, tilianin, hợp chất dẫn xuất kaempferol và hexadecanoic acid ester là những phân tử lần đầu tiên được phát hiện trong toàn bộ chi Lygodium [2].

Đối với loài bòng bong Lygodium flexuosum, các nhà khoa học cũng phát hiện một lượng lớn các hợp chất triterpen và sterol [3]. Một nghiên cứu đã phân lập được hợp chất este triterpen mới là O-P-coumaryl-dryocrassol từ loài này [3]. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn ghi nhận sự hiện diện của dryocrassol, tectoquinone, kaempferol, kaempferol-3-beta-D-glucoside, beta-sitosterol và stigmasterol [3]. Nhờ cấu trúc phân tử giàu khung sterol và triterpene, các chiết xuất từ thân lá bòng bong mang đặc tính sinh học rất phong phú [3].

Nghiên cứu thực nghiệm về tác dụng bảo vệ gan và kháng u

Cây bòng bong Lygodium flexuosum từ lâu đã được y học cổ truyền Ấn Độ sử dụng để hỗ trợ các bệnh lý về gan [4]. Nhằm làm sáng tỏ kinh nghiệm này, một nghiên cứu thực nghiệm năm 2006 đã đánh giá tiềm năng bảo vệ tế bào gan của chiết xuất n-hexane từ Lygodium flexuosum trên chuột cống đực chủng Wistar [5]. Mô hình thí nghiệm gây tổn thương gan cấp tính bằng hóa chất carbon tetrachloride (CCl4) được chia thành hai nhóm: phòng ngừa và điều trị [5].

Trong nghiên cứu này, nhóm chuột đối chứng nhiễm độc và nhóm chuột được điều trị bằng chiết xuất n-hexane nhận một liều đơn CCl4 là 150 microL/100g trọng lượng cơ thể (pha tỷ lệ 1:1 trong dầu ngô) [5]. Ở nhóm phòng ngừa, chuột được uống chiết xuất n-hexane từ cây bòng bong với hai mức liều 100 mg/kg và 200 mg/kg vào các thời điểm 48 giờ, 24 giờ và 2 giờ trước khi tiêm CCl4 [5]. Ở nhóm điều trị, chuột được cho uống cùng các mức liều 100 mg/kg và 200 mg/kg vào 2 giờ, 24 giờ và 48 giờ sau khi đã tiêm CCl4 [5].

Kết quả cho thấy ở những con chuột được dùng trước chiết xuất Lygodium flexuosum, sự gia tăng men gan AST, ALT, LDH trong huyết thanh và peroxy hóa lipid trong gan đã bị ngăn chặn đáng kể [5]. Ở nhóm chuột được cho dùng chiết xuất sau khi gan đã bị tổn thương, chiết xuất bòng bong thể hiện tác dụng bảo vệ gan có ý nghĩa thống kê (p <= 0.05) [5]. Các chỉ số men gan AST, ALT, LDH cũng như chỉ số MDA đều trở về mức bình thường [5].

Đồng thời, nồng độ glutathione trong mô gan tăng lên rõ rệt (p <= 0.05) ở cả hai nhóm thử nghiệm chuột dùng chiết xuất bòng bong [5]. Quan sát tổn thương mô bệnh học do CCl4 gây ra cũng cho thấy mức độ thoái hóa gan giảm đi rõ rệt khi dùng chiết xuất bòng bong [5]. Phân tích hóa thực vật sơ bộ trong công trình này khẳng định dịch chiết n-hexane của Lygodium flexuosum chứa saponin, triterpene, sterol và các hợp chất đắng, đóng vai trò chính tạo nên tác dụng bảo vệ gan [5].

Bên cạnh khả năng bảo vệ tế bào gan lành, chiết xuất từ cây bòng bong Lygodium flexuosum còn được khảo sát về tác động ức chế tế bào ung thư gan [4]. Một nghiên cứu công bố năm 2009 đã thử nghiệm dịch chiết n-hexane của cây trên hai dòng tế bào ung thư gan người là PLC/PRF/5 và Hep 3B [4]. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá tỷ lệ sống sót của tế bào bằng thử nghiệm MTT, đo mức độ bộc lộ annexin-V gắn FITC và hiện tượng phân cắt enzym PARP [4].

Kết quả ghi nhận chiết xuất Lygodium flexuosum làm giảm khả năng sống của tế bào ung thư và kích hoạt quá trình tự chết (apoptosis) theo nồng độ tăng dần [4]. Hiện tượng tự chết này được xác nhận qua sự đảo lộn của phosphatidyl serine trên màng tế bào và sự phân cắt enzym PARP [4]. Phân tích chu kỳ tế bào bằng kỹ thuật dòng chảy tế bào cũng chỉ ra quần thể tế bào chết theo chương trình ở pha subG1 khi tiếp xúc với nồng độ chiết xuất cao hơn [4].

Hơn nữa, khi tế bào gan được kích hoạt nhân tạo bằng chất gây viêm TNF-alpha ngoại sinh, chiết xuất bòng bong đã ức chế sự biểu hiện gen phụ thuộc yếu tố phiên mã NF-kappaB trong tế bào PLC/PRF/5 phụ thuộc vào liều lượng [4]. Kết luận của nhóm nghiên cứu cho thấy chiết xuất cây Lygodium flexuosum có hoạt tính chống tăng sinh, thúc đẩy apoptosis trên cả hai dòng tế bào và làm chậm quá trình hoạt hóa NF-kappaB, mở ra tiềm năng như một tác nhân hóa dự phòng ung thư [4].

Lợi ích, giới hạn bằng chứng và những ngộ nhận phổ biến

Mặc dù các dữ liệu thực nghiệm trên ống nghiệm và động vật ghi nhận nhiều hoạt tính sinh học hứa hẹn của chiết xuất bòng bong, người tiêu dùng cần nhìn nhận đúng bản chất bằng chứng. Đa phần các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở mô hình chiết xuất dung môi hữu cơ đặc hiệu (n-hexane) trên tế bào nuôi cấy trong phòng thí nghiệm hoặc chuột cống [1, 7].

Các kết quả này chưa thể tương đương hoàn toàn với việc một người bình thường lấy cành lá khô đun nước uống hàng ngày. Dung môi n-hexane trích xuất chủ yếu các phân đoạn không phân cực như sterol, triterpen, saponin dầu [5]. Trong khi đó, cách sắc thuốc bằng nước sôi truyền thống của người dân chỉ thu được một phần các chất hòa tan trong nước, hàm lượng các chất triterpen kém tan sẽ thấp hơn rất nhiều [3]. Do đó, tuyệt đối không tự ý xem đây là biện pháp thay thế phác đồ điều trị của y học hiện đại đối với các bệnh viêm gan hay ung thư.

Một hiểu lầm rất phổ biến là dùng lẫn lộn dạng bào tử (hải kim sa) và dạng thân cành (dây bòng bong). Bào tử hải kim sa là dạng tập trung hạt mịn, không tan trong nước, thường được y học cổ truyền nhắm vào giải quyết các chứng nhiệt lâm, tiểu buốt, tiểu rắt hoặc sỏi đường tiết niệu nhỏ. Toàn cây bòng bong lại có khối lượng xơ gỗ lớn, chứa nhiều nhóm flavonoid, acid hữu cơ đa dạng thích hợp hơn cho việc giải nhiệt tổng thể, hỗ trợ tiêu viêm cơ bản [3, 4]. Nếu lấy dây bòng bong thô sắc mong lọc được hạt bào tử tinh mịn thì lượng hạt thu được rất ít, hiệu quả không đồng đều.

Nhiều người cũng ngộ nhận rằng dược liệu tự nhiên càng uống đậm đặc càng tốt. Trong thực tế, chiết xuất tự nhiên chứa rất nhiều nhóm hoạt chất khác nhau cùng lúc. Việc tự ý tăng liều sắc uống có thể gây kích ứng đường tiêu hóa, tiêu chảy hoặc tạo áp lực đào thải lớn lên chính các cơ quan gan thận.

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Dù là thảo dược tự nhiên, cây bòng bong và bào tử hải kim sa không phải là lựa chọn vô hại cho mọi đối tượng. Một nghiên cứu công bố năm 1986 đã lưu ý rằng loài dương xỉ Lygodium flexuosum được báo cáo có hoạt tính chống thụ thai (antifertility activity) trong các khảo sát dược lý dân tộc học [3]. Mặc dù cơ chế sâu xa cần được làm rõ thêm, dữ liệu này đưa ra cảnh báo quan trọng về an toàn sinh sản [3].

Phụ nữ đang mang thai hoặc phụ nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ có kế hoạch thụ thai cần thận trọng tối đa, không nên tự ý dùng các bài thuốc từ loài cây này [3]. Việc can thiệp vào khả năng sinh sản hoặc gây co bóp cơ trơn tử cung đều có thể tạo ra rủi ro sảy thai ngoài ý muốn. Phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ cũng nên tránh dùng do chưa có đủ dữ liệu kiểm chứng an toàn lâm sàng.

Những người có thể trạng suy nhược, tỳ vị hư hàn thường xuyên bị đau bụng, đi ngoài phân lỏng, người lạnh không nên dùng nước sắc bòng bong kéo dài. Thảo dược này có tính mát, lợi niệu mạnh, dễ làm tổn hao tân dịch và khiến tình trạng lạnh bụng trầm trọng hơn. Những bệnh nhân đang điều trị sỏi thận kích thước lớn, suy giảm chức năng gan thận mạn tính hoặc đang dùng các thuốc điều trị đặc hiệu cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi kết hợp thảo dược.

Hướng dẫn sử dụng thực tế và phối hợp đúng cách

Để tận dụng đúng công dụng và hạn chế tác dụng phụ, người dùng cần phân loại cách sơ chế và sử dụng cho từng phần của thảo dược:

Đối với toàn cây bòng bong: Bộ phận này phù hợp nấu nước sắc uống giải nhiệt, thanh lọc nhẹ nhàng. Cành lá khô thu hái về cần rửa sạch đất cát, chặt thành đoạn ngắn từ 3 đến 5 cm rồi phơi thật khô. Khi dùng, lấy một lượng vừa phải, cho vào ấm nấu cùng nước sôi khoảng 15 đến 20 phút để các hợp chất flavonoid và acid phenolic tan dần vào nước [3, 4]. Nước sắc dây bòng bong nên uống trong ngày, dùng ấm và không để qua đêm để tránh ôi thiu.

Đối với bào tử hải kim sa: Do có dạng bột cát rất mịn và nhẹ, lớp bào tử này không tan trong nước và rất dễ bay lơ lửng bám vào thành ấm. Nếu thả trực tiếp hạt bào tử vào nồi nước sắc chung với các vị thuốc khác, nước thuốc sẽ bị đục ngầu, hạt dính vào bã thuốc gây lãng phí.

Cách chế biến chuẩn là người dùng cần gói riêng lớp bột hải kim sa vào một túi vải sạch (hoặc túi lọc trà bằng cotton mỏng) rồi mới thả túi này vào nồi sắc cùng các thảo dược khác. Khi thuốc sôi, nước ngấm qua túi vải sẽ hòa tan các chất cần thiết mà không làm thất thoát bột. Một số bài thuốc cổ truyền còn cho phép tán bột mịn hải kim sa rồi hòa trực tiếp với nước ấm hoặc nước sắc thảo dược khác để uống.

Cả hai dạng dùng này đều không nên lạm dụng liên tục kéo dài nhiều tháng liền. Người dùng chỉ nên áp dụng theo từng đợt ngắn, kết hợp chế độ ăn uống nhiều rau xanh, hạn chế đồ cay nóng dầu mỡ và uống đủ nước để hỗ trợ hệ bài tiết hoạt động trơn tru.

Lời kết

Dây bòng bong và bào tử hải kim sa tuy có chung một nguồn gốc thực vật nhưng lại đại diện cho hai dạng bộ phận dùng với cấu trúc và mục đích ứng dụng khác biệt. Toàn cây bòng bong sở hữu phổ hoạt chất đa dạng từ flavonoid, sterol đến acid hữu cơ thích hợp cho giải nhiệt, chống viêm thực nghiệm [3, 4, 7]; trong khi bào tử hạt lại mang tính cô đọng đặc hiệu hơn cho đường tiết niệu. Hiểu đúng đặc tính, sử dụng đúng dạng bào chế và lắng nghe ý kiến của nhân viên y tế sẽ giúp người dân ứng dụng thảo dược này một cách an toàn và khoa học nhất.